Xác định thể thơ và nhân vật trữ tình của bài thơ Cảm hoài (Đặng Dung) – Ngữ văn 12

Trả lời nhanh

Xác định thể thơ và nhân vật trữ tình bài cảm hoài. Bài thơ Cảm hoài (Nỗi lòng) của Đặng Dung được viết bằng chữ Hán theo thể thất ngôn bát cú Đường luật: 8 câu, mỗi câu 7 chữ, gieo một vần bằng “a”, đối ở hai cặp câu thực và luận. Nhân vật trữ tình là người anh hùng lỡ vận, tuổi đã già mà nợ nước chưa trả, cũng chính là tác giả Đặng Dung, vị tướng nhà Hậu Trần chống quân Minh. Nhân vật mang tâm trạng bi phẫn nhưng vẫn giữ chí khí kiên trung, đêm đêm mài gươm chờ ngày báo quốc.

Tìm hiểu chung về tác giả và bài thơ Cảm hoài

Đặng Dung (?–1414), người Hà Tĩnh, là con của danh tướng Đặng Tất. Sau khi cha bị giết oan, ông cùng các tướng lĩnh lập Trần Quý Khoáng lên ngôi (vua Trùng Quang), tiếp tục cuộc kháng chiến của nhà Hậu Trần chống giặc Minh. Lực lượng ngày càng suy yếu, ông bị giặc bắt năm 1414 và tự tận trên đường bị giải sang phương Bắc. Ông để lại không nhiều tác phẩm, nhưng Cảm hoài được coi là một trong những bài thơ chữ Hán xuất sắc của văn học trung đại Việt Nam.

Bài thơ ra đời trong hoàn cảnh cuộc kháng chiến lâm vào thế bế tắc: người anh hùng tuổi đã cao, thời thế không thuận, quân thù chưa diệt. Câu hỏi “Xác định thể thơ và nhân vật trữ tình của bài thơ” là câu hỏi số 1 sau văn bản Cảm hoài (trang 44) trong sách Ngữ văn 12 tập một bộ Kết nối tri thức.

Phiên âm bài thơ

Thế sự du du nại lão hà,
Vô cùng thiên địa nhập hàm ca.
Thời lai đồ điếu thành công dị,
Vận khứ anh hùng ẩm hận đa.
Trí chủ hữu hoài phù địa trục,
Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà.
Quốc thù vị báo đầu tiên bạch,
Kỉ độ Long Tuyền đái nguyệt ma.

Hiểu nghĩa từng câu: việc đời còn dằng dặc mà ta đã già, biết làm sao; trời đất mênh mông thu cả vào cuộc hát say; gặp thời thì người hàng thịt, kẻ đi câu cũng dễ lập công; lỡ vận thì bậc anh hùng đành nuốt hận; giúp chúa, lòng những mong xoay lại trục đất; muốn rửa binh khí mà không có lối kéo sông Ngân xuống; thù nước chưa trả mà đầu đã bạc; bao phen mài gươm Long Tuyền dưới bóng trăng.

Xác định thể thơ: thất ngôn bát cú Đường luật

Em có thể chứng minh bài thơ thuộc thể thất ngôn bát cú Đường luật bằng các dấu hiệu sau:

Dấu hiệu Biểu hiện trong bài Cảm hoài
Số câu, số chữ 8 câu, mỗi câu 7 chữ (thất ngôn bát cú), viết bằng chữ Hán.
Vần Gieo một vần bằng ở cuối các câu 1, 2, 4, 6, 8: hà – ca – đa – hà – ma.
Luật Chữ thứ hai của câu 1 là “sự” (thanh trắc) nên bài làm theo luật trắc; các câu tuân theo quy tắc niêm, luật bằng trắc.
Đối Câu 3 đối câu 4 (thời lai / vận khứ, đồ điếu / anh hùng, thành công dị / ẩm hận đa); câu 5 đối câu 6 (trí chủ / tẩy binh, hữu hoài / vô lộ, phù địa trục / vãn thiên hà).
Bố cục Bốn phần đề – thực – luận – kết, mỗi phần hai câu.

Thể thơ này vốn có kết cấu chặt chẽ, lời ít ý nhiều. Đặng Dung tận dụng các cặp đối để đặt hai thế giới cạnh nhau: kẻ tầm thường gặp thời và người anh hùng lỡ vận; khát vọng xoay trời chuyển đất và thực tế không có đường đi. Sự đối lập ấy làm nổi bật bi kịch của nhân vật trữ tình.

Xác định nhân vật trữ tình

Nhân vật trữ tình là người trực tiếp bộc lộ cảm xúc, suy nghĩ trong bài thơ. Trong Cảm hoài, nhân vật trữ tình là người anh hùng, tráng sĩ lỡ thời, và có thể đồng nhất với chính tác giả Đặng Dung, bởi những chi tiết “phò chúa”, “thù nước chưa trả”, “đầu đã bạc” khớp với cuộc đời ông. Có thể hình dung nhân vật qua bốn phần của bài thơ:

Hai câu đề: hoàn cảnh và tâm trạng

Nhân vật đứng trước việc đời còn ngổn ngang mà bản thân đã già. Câu hỏi tu từ “nại lão hà” (biết làm sao với tuổi già) bộc lộ nỗi day dứt. Hình ảnh trời đất vô cùng đi vào cuộc hát say cho thấy con người nhỏ bé, cô đơn trước vũ trụ, nhưng cũng là tư thế ngang tàng của kẻ sĩ tìm đến men say để giãi bày nỗi lòng.

Hai câu thực: nỗi hận của người anh hùng

Tác giả dùng điển cố “đồ điếu” (người làm nghề hàng thịt, người đi câu, những người xuất thân bình thường nhưng gặp thời mà lập công lớn, như Phàn Khoái, Hàn Tín thời Hán). Đặt cạnh đó, người anh hùng gặp lúc vận đi chỉ còn biết “ẩm hận”: nuốt hận vào lòng. Hai câu đối nhau nói lên quy luật thời thế, đồng thời là nỗi xót xa của chính nhân vật.

Hai câu luận: hoài bão lớn lao

Nhân vật vẫn ôm chí “phù địa trục”, giúp vua xoay lại trục đất, tức là xoay chuyển cục diện đất nước. Hình ảnh “vãn thiên hà” (kéo sông Ngân rửa binh khí) gợi khát vọng chấm dứt chiến tranh, đem lại thái bình. Những hình ảnh kì vĩ mang tầm vũ trụ cho thấy tầm vóc lớn lao của con người, nhưng chữ “vô lộ” (không có đường) lại cho thấy hoàn cảnh bế tắc.

Hai câu kết: bi kịch và chí khí

“Quốc thù vị báo đầu tiên bạch” là câu thơ đau đớn nhất: thù nước chưa trả mà mái đầu đã bạc. Thế nhưng nhân vật không buông xuôi. Hình ảnh mài gươm Long Tuyền dưới trăng khép lại bài thơ bằng tư thế bền bỉ, kiên trung, chờ thời cơ để tiếp tục chiến đấu. Âm hưởng chung vì thế là bi tráng: vừa đau thương, vừa hào hùng.

Cách trình bày câu trả lời trong bài kiểm tra

Khi gặp câu hỏi “Xác định thể thơ và nhân vật trữ tình của bài thơ Cảm hoài”, em nên trả lời theo hai ý, mỗi ý có căn cứ:

  1. Thể thơ: thất ngôn bát cú Đường luật (chữ Hán), căn cứ: 8 câu 7 chữ, một vần bằng “a”, đối ở câu 3–4 và 5–6, bố cục đề – thực – luận – kết.
  2. Nhân vật trữ tình: người anh hùng lỡ vận, tức tác giả Đặng Dung; mang nỗi hận vì tuổi già, thời thế không thuận, thù nước chưa trả, nhưng vẫn nuôi chí lớn và kiên trì chờ thời.

Đoạn trả lời mẫu: Bài thơ Cảm hoài được viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật, gồm tám câu bảy chữ, gieo vần bằng “a” và có các cặp câu đối ở phần thực, phần luận. Nhân vật trữ tình là người anh hùng lỡ vận, cũng chính là tác giả Đặng Dung: tuổi đã già, đại sự chưa thành, thù nước chưa trả nên mang nỗi hận lớn, song vẫn giữ trọn chí khí, đêm đêm mài gươm dưới trăng chờ ngày rửa hận cho đất nước.

Lỗi thường gặp

  • Chỉ ghi “thất ngôn bát cú” mà quên “Đường luật”, hoặc nhầm với thất ngôn tứ tuyệt (bài thơ có 8 câu, không phải 4 câu).
  • Ghi nhân vật trữ tình là “người lính” hay “nhà vua”; người phò chúa trong bài là bề tôi, không phải vua.
  • Kể tiểu sử tác giả quá dài mà không chỉ ra tâm trạng, chí khí của nhân vật trữ tình trong bài.

Câu hỏi thường gặp

Bài thơ Cảm hoài của ai?

Cảm hoài (Nỗi lòng) là bài thơ chữ Hán của Đặng Dung, vị tướng nhà Hậu Trần kháng chiến chống quân Minh đầu thế kỉ XV.

Bài thơ Cảm hoài được viết theo thể thơ gì?

Bài thơ viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật: 8 câu, mỗi câu 7 chữ, gieo một vần bằng và có đối ở câu 3–4, 5–6.

Nhân vật trữ tình trong bài Cảm hoài là ai?

Là người anh hùng lỡ vận, tuổi già mà thù nước chưa trả, chính là tác giả Đặng Dung.

Âm hưởng chủ đạo của bài thơ Cảm hoài là gì?

Âm hưởng bi tráng: vừa đau xót vì đại sự chưa thành, vừa hào hùng vì chí khí kiên trung không khuất phục.

Long Tuyền trong câu cuối bài Cảm hoài là gì?

Long Tuyền là tên một thanh gươm báu nổi tiếng thời xưa, tượng trưng cho chí khí và ý chí chiến đấu của người anh hùng.