Vở bài tập Tiếng Việt lớp 3 trang 63, 64: Đồng hồ Mặt Trời

Trả lời nhanh

Vở bài tập tiếng Việt lớp 3 trang 64 thuộc bài Đồng hồ Mặt Trời, Chân trời sáng tạo, tập 1. Trang này có câu điền: Ê-đi-xơn là nhà phát minh; ông đã sáng chế ra đèn điện; để chế tạo một vật dụng, ông làm hàng ngàn thí nghiệm. Trang 63–64 còn yêu cầu phiếu đọc sách về một bài thơ nghề nghiệp, xếp từ vào ba nhóm sản phẩm, hoạt động, đặc điểm, rồi viết một đến hai câu có từ chỉ đặc điểm.

Phiếu đọc sách ở trang 63

Câu 1 không có một đáp án duy nhất. Em đọc một bài thơ về nghề, rồi ghi vào phiếu những điều mình nhớ. Bốn ô thường gặp là tên bài thơ, tên tác giả, tên nghề và một tên khác em muốn đặt cho bài thơ.

Nếu lớp đang dùng bài thơ làm gốm làm mẫu, phiếu có thể ghi:

  • Tên bài thơ: Cái bát xinh xinh.
  • Tác giả: Thanh Hòa.
  • Nghề: làm gốm.
  • Tên khác: Món quà của cha mẹ.

Đó là một cách ghi khi em đọc đúng bài thơ ấy. Nếu cô cho bài thơ về thợ may, thợ xây hay người trồng lúa, em đổi cả bốn ô theo bài mình đọc. Tên khác phải bám ý thơ, không đặt cho vui. Với bài bát gốm do cha mẹ làm ra và trao cho con, “Món quà của cha mẹ” hợp vì nói được món đồ và người làm ra món đồ. “Cái bát” một mình thì gần với nhan đề gốc, chưa phải một tên mới.

Khi viết phiếu, em viết hoa tên bài và tên người, còn nghề viết thường. Không cần chép lại cả bài thơ vào phiếu. Phiếu chỉ giữ điều em nhớ được sau khi đọc.

Xếp từ: sản phẩm, hoạt động, đặc điểm

Câu 2 đưa một loạt từ và ba cột. Mẫu của sách là “đồng hồ” thuộc cột sản phẩm, “chế tạo” thuộc cột hoạt động, “tinh xảo” thuộc cột đặc điểm. Em xếp nốt các từ còn lại theo cùng cách hỏi.

Hỏi “cái gì, vật gì, tác phẩm gì” thì ra từ chỉ sản phẩm. Hỏi “làm gì” thì ra từ chỉ hoạt động. Hỏi “như thế nào, có nét gì” thì ra từ chỉ đặc điểm. Từ nào trả lời được hai câu thì xem nó đang được dùng như vật hay như việc. “Phát minh” trong danh sách này là việc tìm ra cái mới, nên vào cột hoạt động, không vào cột sản phẩm.

Ba cột từ ngữ: sản phẩm gồm đồng hồ, bản nhạc, đèn điện; hoạt động gồm chế tạo, sáng chế, thí nghiệm; đặc điểm gồm tinh xảo, độc đáo, du dương
Hình 1. Câu xếp từ của bài Đồng hồ Mặt Trời tách sản phẩm, hoạt động và đặc điểm thành ba nhóm.
Từ ngữ chỉ sản phẩm Từ ngữ chỉ hoạt động Từ ngữ chỉ đặc điểm
đồng hồ chế tạo tinh xảo
bản nhạc sáng chế mới mẻ
máy móc phát minh độc đáo
rô-bốt sáng tác đặc sắc
đèn điện thí nghiệm du dương

Năm từ sản phẩm đều chỉ được một vật hoặc một tác phẩm: đồng hồ, bản nhạc, máy móc, rô-bốt, đèn điện. Em có thể chỉ vào hoặc nghe thấy. Bản nhạc là sản phẩm của người sáng tác, dù không cầm trên tay như một cái đèn.

Năm từ hoạt động đều là việc người ta làm: chế tạo là làm ra đồ vật, sáng chế là nghĩ ra cách làm một cái mới, phát minh là tìm ra điều trước đó chưa có, sáng tác là tạo ra bài hát hoặc bài thơ, thí nghiệm là làm thử để kiểm tra. Không xếp “sáng tác” vào đặc điểm. Sáng tác là một việc, còn “du dương” mới là nét của tiếng nhạc do việc ấy tạo ra.

Năm từ đặc điểm không gọi tên vật và cũng không phải một việc đang diễn ra. Tinh xảo là khéo đến từng chi tiết nhỏ. Mới mẻ là còn mới, chưa quen. Độc đáo là lạ, không giống những cái đã có. Đặc sắc là nổi bật, đáng nhớ. Du dương dành cho âm thanh êm, kéo dài, dễ nghe; vì thế nó đi với bản nhạc hơn là với cái máy.

Điền từ vào đoạn nói về Ê-đi-xơn

Câu 3 lấy từ đúng trong bảng câu 2, không bịa từ ngoài. Đoạn kể Ê-đi-xơn có bốn chỗ trống. Sau khi điền, ý đoạn là: ông là nhà phát minh, đã sáng chế ra đèn điện cùng máy chiếu phim và máy hát; muốn chế tạo một vật dụng, có khi ông phải làm hàng ngàn thí nghiệm.

Chỗ thứ nhất cần một danh xưng đi với “nhà … vĩ đại”. Trong các từ hoạt động, “phát minh” hợp nhất: nhà phát minh là người tìm ra những cái mới. “Nhà sáng tác” nghiêng về thơ, nhạc, truyện. “Nhà thí nghiệm” không phải cách gọi của đoạn này. Ê-đi-xơn được nhắc như người có rất nhiều phát minh, nên danh xưng phải là nhà phát minh.

Chỗ thứ hai đi với “đã … ra đèn điện, máy chiếu phim, máy hát”. Đèn điện là một vật được nghĩ ra và làm thành sản phẩm, nên động từ là sáng chế. Không điền “thí nghiệm ra đèn điện”: thí nghiệm là bước thử, chưa phải việc cho ra đời chiếc đèn. Cũng không điền “sáng tác ra đèn điện”, vì sáng tác đi với bản nhạc, bài thơ, không đi với một loại máy.

Chỗ thứ ba: “để … một vật dụng”. Làm ra một đồ dùng cụ thể là chế tạo. Phát minh nhấn vào việc tìm ra ý tưởng hoặc quy luật; ở chỗ này đoạn đang nói tới từng vật dụng phải được làm nên, nên chế tạo sát hơn. Nếu em đảo sáng chế xuống chỗ này và đưa chế tạo lên chỗ “ra đèn điện”, câu vẫn có vẻ xuôi nhưng lệch cách sách đang phân vai: sáng chế cho ra đời các máy nổi tiếng, chế tạo cho từng vật dụng phải gia công.

Chỗ thứ tư đi với số đếm hàng ngàn. Hàng ngàn lần làm thử chính là thí nghiệm. Không điền sáng tác: không ai làm hàng ngàn lần sáng tác để ra một vật dụng. Cuối đoạn, sách nhắc khoảng gần 2000 phát minh của cả đời ông; chỗ trống này là những lần thử cho từng món, không đếm trùng con số ấy.

Bốn từ theo đúng thứ tự chỗ trống là phát minh, sáng chế, chế tạo, thí nghiệm. Cả bốn đều nằm ở cột hoạt động của câu 2. Các từ sản phẩm và đặc điểm không lắp được vào bốn chỗ này.

Viết một đến hai câu về đặc điểm sản phẩm

Câu 4 chỉ cần câu ngắn, có một từ chỉ đặc điểm. Mẫu của vở: “Chiếc đồng hồ rất tinh xảo.” Em nhìn mẫu rồi đổi sản phẩm hoặc đổi từ đặc điểm, vẫn giữ kiểu “vật + đặc điểm”.

Hai câu làm được ngay từ bảng từ:

  • Bản nhạc rất du dương.
  • Rô-bốt là một phát minh rất độc đáo.

Câu thứ nhất dùng du dương, từ chỉ đặc điểm của âm thanh. Câu thứ hai dùng độc đáo. “Phát minh” ở đây là cách gọi sản phẩm vừa được nghĩ ra, đứng sau “là một”, nên câu vẫn có từ chỉ đặc điểm là độc đáo. Em có thể viết thêm: “Chiếc đèn điện mới mẻ ấy sáng cả căn phòng.” Từ mới mẻ phải gắn vào đèn, không viết một mình.

Câu chưa đạt là câu chỉ có mỗi tên vật, ví dụ “Nhà em có đèn điện.” Câu ấy đúng sự việc nhưng chưa có đặc điểm, nên chưa làm câu 4. Câu “Máy móc tinh xảo giúp việc nhà” đạt vì có tinh xảo. Viết một câu hay hai câu đều được; không cần đoạn văn.

Luyện thêm và bài cạnh trang này

Luyện 1. Xếp: kiên nhẫn, bài hát, lắp ráp, sắc nét. Gợi ý cách hỏi, không lấy từ ngoài bài nếu cô chưa yêu cầu. Với bốn từ này: bài hát là sản phẩm; lắp ráp là hoạt động; sắc nét là đặc điểm. Kiên nhẫn cũng là đặc điểm của người làm việc, cùng kiểu với kiên trì trong đoạn Ê-đi-xơn, dù từ ấy không có sẵn trong bảng câu 2.

Luyện 2. Điền một từ ở cột hoạt động: “Bạn Lan đang … một bản nhạc cho lễ hội.” Đáp án hợp nhất là sáng tác. Chế tạo và thí nghiệm không dùng với bản nhạc.

Luyện 3. Viết một câu về chiếc đồng hồ Mặt Trời, có từ tinh xảo hoặc độc đáo. Câu gợi ý: “Đồng hồ Mặt Trời trong sân trường thật độc đáo.” Em đổi “sân trường” thành nơi em đã thấy đồng hồ ấy.

Các bài cùng vở, ngay trước và sau bài Đồng hồ Mặt Trời:

Câu hỏi thường gặp

Trang 64 điền những từ nào về Ê-đi-xơn?

Theo thứ tự: phát minh, sáng chế, chế tạo, thí nghiệm.

Bản nhạc thuộc nhóm nào?

Từ ngữ chỉ sản phẩm. Sáng tác mới là hoạt động, du dương mới là đặc điểm.

Phiếu đọc sách có bắt buộc ghi Cái bát xinh xinh không?

Không. Đó là mẫu khi em đọc bài thơ về nghề làm gốm. Bài thơ khác thì ghi đúng bài em đọc.

Câu về đặc điểm sản phẩm viết thế nào?

Nêu tên vật và một từ như tinh xảo, du dương, độc đáo. Ví dụ: Bản nhạc rất du dương.

Vì sao không điền sáng tác vào chỗ đèn điện?

Sáng tác dùng cho bài hát, bài thơ, bản nhạc. Đèn điện được sáng chế và chế tạo.