Chuyên đề Sinh học 11 Kết nối tri thức: mục lục bài

Trả lời nhanh

Cụm công thức sinh học 11 mà nhiều em gõ tìm thường chỉ hai phương trình ở sách chính: quang hợp 6CO2 + 6H2O cho ra C6H12O6 và 6O2, còn hô hấp đi ngược lại và giải phóng năng lượng. Trang này không chép lại cả chương ấy. Đây là mục lục Chuyên đề học tập Sinh học 11 Kết nối tri thức, ba chuyên đề: dinh dưỡng khoáng trong nông nghiệp sạch, bệnh dịch ở người, vệ sinh an toàn thực phẩm. Mục lục cũ không có bài 8 giữa bài 7 và bài 9.

Ba chuyên đề và chỗ đứng của các công thức

Sách giáo khoa Sinh học 11 dạy tế bào, vi sinh vật, thực vật và cơ thể người. Chuyên đề học tập là phần riêng, gắn việc học với ruộng vườn, phòng bệnh và bếp ăn. Vì vậy em không mở chuyên đề để tìm một bảng công thức thay cho bài quang hợp. Hai phương trình trên vẫn cần thuộc, và cần đếm đúng nguyên tử: ở quang hợp, cacbon 6 bằng 6, hiđro 12 bằng 12, oxi 12 cộng 6 bằng 18 ở vế trái, còn vế phải có 6 oxi trong glucozơ và 12 oxi trong sáu phân tử O2.

Trong chuyên đề, “công thức” chủ yếu là nguyên tắc, không phải một phương trình duy nhất. Dinh dưỡng khoáng dùng nguyên tắc bón đúng loại, đúng liều, đúng lúc, đúng cách. Thủy canh dùng dung dịch khoáng và oxi cho rễ. Bệnh dịch dùng sơ đồ tác nhân và đường lây. An toàn thực phẩm dùng các nguyên tắc sạch, tách riêng, nấu chín, giữ lạnh. Mỗi nguyên tắc được làm rõ ở bài riêng. Trang này chỉ giúp em mở đúng bài và không làm lệch yêu cầu.

Sơ đồ ba chuyên đề Sinh học 11: dinh dưỡng khoáng và thủy canh, bệnh dịch với tác nhân và đường lây, an toàn thực phẩm với bốn việc sạch, riêng, chín, lạnh
Hình 1. Ba chuyên đề đứng riêng: khoáng chất, bệnh dịch và thực phẩm, mỗi chuyên đề một nhóm bài.

Chuyên đề 1. Dinh dưỡng khoáng và nông nghiệp sạch

Cây cần nguyên tố đa lượng và vi lượng. Đa lượng dùng nhiều hơn, gồm nitơ, photpho, kali, canxi, magiê và lưu huỳnh. Nitơ gắn với diệp lục và sự sinh trưởng của thân lá. Photpho gắn với chuyển hóa năng lượng, với rễ, hoa và quả. Kali gắn với đóng mở khí khổng và với việc vận chuyển đường. Vi lượng như sắt, kẽm, đồng, mangan, bo, molipđen chỉ cần rất ít, nhưng thiếu vẫn làm lá biến màu hoặc cây còi. Bón thừa nitơ không phải lúc nào cũng tốt: thân lá vươn nhanh, mô mềm, cây dễ đổ và dễ bệnh, còn phần thừa có thể trôi xuống nước.

Nông nghiệp sạch ở bài này không có nghĩa là không dùng phân. Nó có nghĩa là dùng đúng nhu cầu của cây và của đất, hạn chế phân hóa học dư và hạn chế tồn dư trong nông sản. Bốn việc em cần nhắc được: đúng loại phân cho triệu chứng thiếu, đúng liều theo hướng dẫn trên bao bì và theo loại cây, đúng lúc cây đang cần, đúng cách để phân tới rễ mà không gây cháy lá. Em không tự pha một hỗn hợp lạ chỉ vì nghe nói “tăng năng suất”.

Thủy canh trồng cây trong dung dịch khoáng thay cho đất. Rễ phải nhận được oxi, nên dung dịch cần thoáng hoặc chảy, không phải một chậu nước đứng yên. Nồng độ muối quá cao làm rễ mất nước. pH lệch nhiều về axit hoặc kiềm làm cây khó hút một số khoáng. Mô hình sạch còn gồm việc không xả dung dịch thừa thẳng ra mương. Bài dự án yêu cầu em điều tra phân bón ở địa phương hoặc tự trồng một cây với cách bón phù hợp. Phiếu điều tra chỉ cần: tên phân, thành phần ghi trên bao, liều và thời điểm người trồng đang dùng, vỏ bao có được thu gom không. Em không hướng dẫn ai pha chế thêm chất ngoài nhãn.

Bài thực hành so sánh loại phân, cách bón hoặc hàm lượng. Em chỉ đổi một yếu tố. Cùng giống cây, cùng đất, cùng nước, cùng ánh sáng, rồi mới so chiều cao hoặc số lá sau một số ngày đã hẹn. Nếu đổi cả loại phân lẫn lượng nước, em sẽ không biết cây khác nhau vì phân hay vì nước.

  • Bài 1: Nguyên tắc và các biện pháp kĩ thuật sử dụng dinh dưỡng khoáng trong nền nông nghiệp sạch
  • Bài 2: Mô hình thủy canh theo hướng phát triển nông nghiệp sạch
  • Bài 3: Dự án: Điều tra tình hình sử dụng phân bón tại địa phương hoặc thực hành trồng cây với các kĩ thuật bón phân phù hợp
  • Bài 4: Thực hành: Thí nghiệm chứng minh tác dụng của loại phân bón, cách bón và hàm lượng phân bón đối với cây trồng

Chuyên đề 2. Bệnh dịch ở người và cách phòng

Bệnh dịch là bệnh có thể lan trong một nhóm người. Tác nhân thường gặp trong bài học là virus, vi khuẩn, nấm, động vật nguyên sinh và giun sán. Virus chỉ nhân lên bên trong tế bào sống. Vi khuẩn là tế bào nhân sơ, một số gây bệnh qua đường hô hấp hoặc tiêu hóa. Nấm có loài gây bệnh ở da hoặc sâu hơn. Đơn bào và giun sán kí sinh lấy chất dinh dưỡng từ vật chủ. Em học để gọi đúng nhóm tác nhân. Trang này không hướng dẫn nuôi cấy, không đưa môi trường nuôi và không phải tài liệu làm thí nghiệm với vi sinh vật gây bệnh.

Đường lây quyết định cách phòng. Giọt bắn và không khí đi với bệnh hô hấp. Thức ăn và nước đi với bệnh đường ruột. Tiếp xúc trực tiếp đi với một số bệnh da và niêm mạc. Muỗi, ve và một số côn trùng là vectơ. Máu và một số dịch cơ thể là đường lây riêng, cần đồ bảo hộ trong y tế, không phải chuyện thử ở nhà. Một bệnh có thể có hơn một đường. Em khoanh đúng đường sách nêu, rồi mới chọn biện pháp tương ứng.

Phòng bệnh ở mức chương trình gồm vệ sinh tay, ăn chín uống chín, không để nước đọng sinh muỗi, ở nhà khi có dấu hiệu lây và theo hướng dẫn của cơ sở y tế, tiêm vaccine theo lịch của chương trình y tế. Không tự dùng kháng sinh cho một bệnh em đoán là virus. Không có liều thuốc trên trang này. Nếu em hoặc người trong nhà đang bệnh, việc cần làm là báo người lớn và khám, không phải làm theo một bài tập.

Mục lục cũ của chuyên đề này có bài 5, bài 6, bài 7 rồi nhảy sang bài 9. Không có bài 8 trong danh sách ấy. Em đối chiếu mục lục in trong sách của mình. Nếu sách cũng không có bài 8, em không tự tạo một bài cho đủ số.

  • Bài 5: Bệnh dịch và tác nhân gây bệnh ở người
  • Bài 6: Nguyên nhân lây nhiễm bệnh dịch ở người
  • Bài 7: Các biện pháp phòng, chống bệnh dịch ở người

Chuyên đề 3. Vệ sinh an toàn thực phẩm

Thực phẩm an toàn là thức ăn không gây hại khi được chế biến và ăn đúng cách. Bài khái quát giúp em phân biệt ô nhiễm sinh học, ô nhiễm hóa học và ô nhiễm do dị vật. Ô nhiễm sinh học là vi sinh vật hoặc độc tố do vi sinh vật tạo ra khi thức ăn để lâu, sống hay chín lẫn nhau, hoặc tay người chế biến không sạch. Ô nhiễm hóa học gồm thuốc bảo vệ thực vật còn trên rau, chất không được phép cho vào thực phẩm, hoặc dụng cụ kim loại không phù hợp. Dị vật là sạn, mảnh vụn rơi vào trong lúc sơ chế.

Ngộ độc thực phẩm là tình trạng có hại sau khi ăn phải thức ăn nhiễm những yếu tố ấy. Dấu hiệu thường được nhắc ở bài học là buồn nôn, nôn, đau bụng, tiêu chảy. Đây là dấu hiệu để nhận biết và để đi khám, không phải để tự xử lí bằng một công thức. Em báo người lớn ngay, giữ lại mẫu thức ăn nếu còn, và đến cơ sở y tế. Không có liều than, liều thuốc hay cách gây nôn trên trang này.

Bốn việc làm trong bếp đủ để trả lời phần lớn câu hỏi phòng ngừa. Sạch: rửa tay, rửa dao thớt, rửa rau dưới nước sạch. Riêng: thớt sống riêng thớt chín, để thịt sống phía dưới thực phẩm ăn liền trong tủ lạnh cho khỏi nhỏ dịch. Chín: nấu đến mức sách và hướng dẫn chế biến yêu cầu, không ăn món dễ nguy cơ khi chưa chín. Lạnh: phần thừa cho vào tủ sớm, không để nhiều giờ ở nhiệt độ phòng rồi hâm lại nhiều lần. Dự án điều tra địa phương hỏi quán ăn hoặc bếp nhà về bốn việc ấy, về nguồn nguyên liệu và về cách bảo quản. Em ghi việc quan sát được, không bịa số liệu cho bài đủ trang.

  • Bài 9: Khái quát về vệ sinh an toàn thực phẩm
  • Bài 10: Ngộ độc thực phẩm
  • Bài 11: Dự án: Điều tra về hiện trạng mất vệ sinh an toàn thực phẩm tại địa phương

Cách học chuyên đề và các môn cùng bộ sách

Mỗi bài nên có một sản phẩm nhỏ. Chuyên đề 1 là bảng so sánh một thí nghiệm hoặc một phiếu điều tra phân bón. Chuyên đề 2 là sơ đồ tác nhân, đường lây, cách phòng của một bệnh em được giao, chỉ dùng kiến thức trong sách và nguồn y tế công khai, không chép phác đồ điều trị. Chuyên đề 3 là biên bản quan sát một bếp hoặc một quán, có việc làm được và việc chưa làm được. Bài viết nào cũng ghi nguồn. Thiếu nguồn thì giáo viên không kiểm được em đã quan sát hay đã chép.

Khi ôn, em đừng trộn ba chuyên đề thành một câu trả lời. Câu hỏi về kali thì ở chuyên đề khoáng. Câu hỏi về muỗi thì ở đường lây. Câu hỏi về thớt sống và thớt chín thì ở an toàn thực phẩm. Các trang môn khác của lớp 11, sách Kết nối tri thức, chỉ để mở khi em học môn đó.

Câu hỏi thường gặp

Công thức quang hợp và hô hấp lớp 11 viết thế nào?

Quang hợp: 6CO2 + 6H2O cho ra C6H12O6 và 6O2 khi có ánh sáng và diệp lục. Hô hấp đi ngược lại và giải phóng năng lượng. Hai vế cùng có 6 cacbon, 12 hiđro và 18 oxi.

Chuyên đề Sinh học 11 Kết nối tri thức có những phần nào?

Có ba phần: dinh dưỡng khoáng và nông nghiệp sạch, bệnh dịch ở người, vệ sinh an toàn thực phẩm. Mục lục cũ không liệt kê bài 8.

Bón phân thế nào thì gọi là phù hợp?

Đúng loại, đúng liều theo hướng dẫn, đúng lúc cây cần và đúng cách đưa phân tới rễ. Thừa nitơ làm thân lá yếu và dễ trôi xuống nước.

Bài bệnh dịch có phải hướng dẫn chữa bệnh không?

Không. Bài chỉ giúp gọi tên tác nhân, đường lây và cách phòng. Người đang bệnh cần người lớn đưa đi khám, không tự dùng kháng sinh.

Ngộ độc thực phẩm thì em làm gì trước?

Báo người lớn, giữ mẫu thức ăn nếu còn và đến cơ sở y tế. Trang học không đưa liều thuốc hay cách gây nôn.