Trả lời nhanh
Chương trình Ngữ văn 7 chia văn bản thành ba nhóm lớn: văn bản văn học (truyện, thơ, tuỳ bút – tản văn, tục ngữ, truyện ngụ ngôn, truyện khoa học viễn tưởng), văn bản nghị luận (nghị luận xã hội và nghị luận văn học) và văn bản thông tin (giới thiệu sự kiện, danh lam, quy tắc, thông tin tổng hợp). Mỗi nhóm có dấu hiệu nhận biết riêng, em chỉ cần nhìn vào mục đích và cách trình bày.
Sơ đồ tổng quát
Trước khi đi vào từng thể loại, em hãy nhìn bức tranh chung: ba nhóm văn bản, mỗi nhóm trả lời một câu hỏi khác nhau. Văn học tạo cảm xúc và hình tượng, nghị luận thuyết phục bằng lí lẽ, còn thông tin cung cấp tri thức chính xác.
Bảng phân loại và dấu hiệu nhận biết
| Nhóm | Thể loại | Dấu hiệu nhận biết |
|---|---|---|
| Văn bản văn học | Truyện (truyện ngắn, truyện khoa học viễn tưởng) | Có nhân vật, cốt truyện, người kể chuyện; có tình huống và sự kiện |
| Văn bản văn học | Thơ (bốn chữ, năm chữ, song thất lục bát) | Chia dòng, gieo vần, nhịp; giàu hình ảnh, nhiều cảm xúc |
| Văn bản văn học | Tuỳ bút, tản văn | Ghi chép tự do, đậm chất trữ tình, thể hiện cái tôi của tác giả |
| Văn bản văn học | Tục ngữ, truyện ngụ ngôn | Tục ngữ ngắn gọn, có vần, đúc kết kinh nghiệm; ngụ ngôn kể chuyện để rút ra bài học |
| Văn bản nghị luận | Nghị luận xã hội, nghị luận văn học | Có luận đề, luận điểm, lí lẽ, bằng chứng; mục đích là thuyết phục |
| Văn bản thông tin | Giới thiệu sự kiện, danh lam, quy tắc; thông tin tổng hợp | Thông tin khách quan, có số liệu, mốc thời gian, nhiều khi kèm hình ảnh, sơ đồ |
Một số văn bản tiêu biểu (sách Kết nối tri thức)
Mỗi bộ sách chọn văn bản khác nhau, nên em hãy đối chiếu với mục lục cuốn sách mình đang học. Dưới đây là vài ví dụ để hình dung từng thể loại.
- Truyện: Bầy chim chìa vôi (Nguyễn Quang Thiều), Đi lấy mật (Đoàn Giỏi).
- Thơ: Tiếng gà trưa (Xuân Quỳnh), thể thơ năm chữ, đi từ tiếng gà trưa gợi nhớ bà và tuổi thơ.
- Tuỳ bút: Mùa xuân của tôi (Vũ Bằng), ghi lại cảm nhận riêng về mùa xuân và nỗi nhớ quê.
- Tục ngữ, ngụ ngôn: bài Tục ngữ về thiên nhiên và lao động sản xuất; truyện Đẽo cày giữa đường.
- Văn bản thông tin: Cầu Long Biên – chứng nhân lịch sử, giới thiệu một công trình gắn với những mốc thời gian.
Cách xác định thể loại trong 4 bước
- Nhìn hình thức: văn bản chia dòng, có vần nhịp thì nghĩ đến thơ; có đoạn kể, nhân vật thì nghĩ đến truyện.
- Hỏi mục đích: để kể chuyện, để bày tỏ cảm xúc, để thuyết phục hay để cung cấp thông tin?
- Tìm yếu tố đặc trưng: nhân vật và cốt truyện (truyện); vần, nhịp, hình ảnh (thơ); luận điểm, lí lẽ (nghị luận); số liệu, mốc, sơ đồ (thông tin).
- Đối chiếu tên gọi trong sách: đề bài thường cho sẵn tên thể loại, em chỉ cần nhớ đặc điểm tương ứng.
Phân biệt thể loại với phương thức biểu đạt
Đây là chỗ học sinh hay nhầm. Thể loại trả lời câu hỏi “văn bản này thuộc loại nào?” (truyện, thơ, nghị luận…). Phương thức biểu đạt trả lời câu hỏi “người viết dùng cách nào để nói?” (tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận, thuyết minh).
Ví dụ, một truyện ngắn thuộc thể loại truyện nhưng bên trong có thể kết hợp tự sự, miêu tả và biểu cảm. Vì vậy khi đề hỏi “thể loại”, đừng trả lời “miêu tả” hay “tự sự”.
Lỗi sai thường gặp khi ôn tập
- Xếp tục ngữ vào thơ vì có vần. Tục ngữ là sáng tác dân gian, đúc kết kinh nghiệm, không phải thơ.
- Nhầm tuỳ bút với truyện vì có chi tiết sự việc. Tuỳ bút chủ yếu bộc lộ cảm xúc và suy nghĩ của người viết, không xây dựng cốt truyện hoàn chỉnh.
- Cho rằng văn bản thông tin phải khô khan. Nó vẫn có thể có hình ảnh, sơ đồ, nhưng mục đích là cung cấp thông tin đúng và rõ.
- Chép nguyên một danh sách văn bản của bộ sách khác. Hãy lập bảng theo đúng mục lục sách của mình.
Cách lập bảng thống kê cho riêng em
Nếu cô giáo yêu cầu thống kê văn bản đã học, em có thể kẻ bảng bốn cột: Tên bài học – Tên văn bản – Tác giả – Thể loại. Mở mục lục sách, đi lần lượt từng bài, ghi các văn bản chính, rồi điền thể loại theo phần “Tri thức Ngữ văn” ở đầu mỗi bài.
Làm xong, em tô cùng một màu cho những văn bản cùng thể loại. Chỉ sau một lượt, em sẽ thấy rõ cuối kì mình học nhiều thơ hay nhiều truyện, từ đó ôn trọng tâm hơn.
Luyện tập có đáp án
Câu 1. Văn bản có nhân vật, cốt truyện, người kể chuyện thuộc thể loại nào?
Đáp án: Truyện.
Câu 2. “Thể thơ năm chữ” thuộc nhóm văn bản nào?
Đáp án: Văn bản văn học (thơ).
Câu 3. Một bài viết trình bày lí lẽ và bằng chứng để thuyết phục người đọc về thói quen đọc sách, đó là kiểu văn bản gì?
Đáp án: Văn bản nghị luận (nghị luận xã hội).
Câu 4. Văn bản giới thiệu một cây cầu với mốc thời gian, số liệu là kiểu văn bản gì?
Đáp án: Văn bản thông tin.
Câu hỏi thường gặp
Ngữ văn 7 có những thể loại văn bản nào?
Gồm văn bản văn học (truyện, thơ, tuỳ bút – tản văn, tục ngữ, truyện ngụ ngôn, truyện khoa học viễn tưởng), văn bản nghị luận và văn bản thông tin.
Thể loại khác phương thức biểu đạt ở điểm nào?
Thể loại cho biết văn bản thuộc loại gì (truyện, thơ, nghị luận), còn phương thức biểu đạt là cách người viết thể hiện nội dung như tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận, thuyết minh.
Tục ngữ có phải là thơ không?
Không. Tục ngữ là sáng tác dân gian ngắn gọn, thường có vần, dùng để đúc kết kinh nghiệm; nó khác thơ ở chỗ không thể hiện cảm xúc trữ tình mà nêu nhận xét, kinh nghiệm.
Danh sách văn bản có giống nhau ở mọi bộ sách không?
Không. Mỗi bộ sách chọn văn bản khác nhau, nên cần đối chiếu mục lục sách em đang học để lập bảng thống kê cho đúng.