Viết bài văn nghị luận về một vấn đề đời sống lớp 8: dàn ý + 5 bài mẫu

Trả lời nhanh

Muốn viết bài văn nghị luận về một vấn đề trong đời sống (con người trong mối quan hệ với cộng đồng, đất nước), em chọn một vấn đề cụ thể, gần gũi như ý thức cộng đồng, trách nhiệm với quê hương hay giữ gìn tiếng Việt. Sau đó nêu rõ quan điểm của mình, giải thích vấn đề, đưa ra hai đến ba lí lẽ có bằng chứng xác thực, bàn thêm ý kiến trái chiều và kết bằng bài học hành động.

1. Hiểu đúng yêu cầu của đề bài

Đây là bài viết trong chương trình Ngữ văn 8 Kết nối tri thức. Đề yêu cầu em bàn về mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể: mỗi người được cộng đồng, đất nước nuôi dưỡng ra sao, và ngược lại mình phải có trách nhiệm gì với cộng đồng, đất nước. Vì vậy, nếu chỉ nói chuyện riêng của bản thân (như việc học hay sở thích) mà không gắn với cộng đồng thì bài sẽ lạc đề.

Bài nghị luận đạt yêu cầu cần có:

  • Luận đề rõ ràng: nêu được quan điểm ngay từ phần mở bài.
  • Hệ thống luận điểm: thường gồm 2–3 ý, sắp xếp hợp lí.
  • Lí lẽ và bằng chứng: bằng chứng phải có thật, tiêu biểu, gần với đời sống học sinh.
  • Phần phản biện: chỉ ra quan niệm hoặc biểu hiện trái ngược rồi bác bỏ một cách thuyết phục.
  • Bài học nhận thức và hành động cụ thể, làm được.

2. Gợi ý một số vấn đề nên chọn

Nhóm vấn đề Ví dụ đề cụ thể
Cá nhân – cộng đồng Ý thức cộng đồng; lòng tốt và sự sẻ chia; tinh thần tình nguyện
Cá nhân – nơi sinh sống Trách nhiệm với quê hương, khu phố; giữ gìn cảnh quan, môi trường
Cá nhân – đất nước Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt; hiểu biết lịch sử và lòng yêu nước; phát huy văn hoá dân tộc
Học sinh – nhà trường Xây dựng trường học thân thiện; nói không với bạo lực học đường

Mẹo chọn đề: chọn vấn đề mà em kể được ít nhất hai việc thật đã thấy hoặc đã làm. Có trải nghiệm thật thì bằng chứng sẽ sống động, không bị sáo rỗng.

3. Dàn ý chung cho kiểu bài

Mở bài

  • Dẫn dắt từ một hình ảnh, câu chuyện hoặc câu nói gần gũi.
  • Nêu vấn đề cần bàn và khẳng định quan điểm của em.

Thân bài

  1. Giải thích từ ngữ, khái niệm chính (ví dụ: “ý thức cộng đồng” là gì).
  2. Luận điểm 1: biểu hiện của vấn đề trong đời sống, kèm bằng chứng.
  3. Luận điểm 2: vì sao vấn đề quan trọng, hay ý nghĩa với cá nhân và với cộng đồng.
  4. Phản biện: phê phán biểu hiện trái ngược, bác bỏ ý kiến sai lệch.
  5. Giải pháp: mỗi người, nhất là học sinh, cần làm gì.

Kết bài

  • Khẳng định lại quan điểm.
  • Rút ra bài học hoặc gửi một lời nhắn gọn, có sức gợi.

4. Năm bài văn mẫu

Bài mẫu 1: Ý thức cộng đồng trong cuộc sống hôm nay

Buổi sáng, trong con hẻm nhà em, có một bác lớn tuổi hôm nào cũng nhặt những mảnh vỡ thuỷ tinh trên mặt đường trước khi đi tập thể dục. Chẳng ai nhờ, cũng chẳng ai trả công, bác chỉ nói: “Để tụi nhỏ đi học khỏi đứt chân”. Câu nói giản dị ấy khiến em nghĩ nhiều về ý thức cộng đồng, thứ phẩm chất mà mỗi người cần có nếu muốn sống tử tế giữa mọi người.

Ý thức cộng đồng là việc mỗi người hiểu mình là một phần của tập thể, từ đó biết tôn trọng quy định chung và quan tâm đến lợi ích của người khác. Nó hiện ra trong những việc rất thường ngày: dừng xe khi đèn đỏ, xếp hàng khi mua vé, vặn nhỏ loa sau mười giờ đêm, bỏ rác đúng chỗ. Ở mức cao hơn, đó là khi người ta sẵn lòng góp sức mỗi lần cộng đồng gặp khó khăn. Những năm chống dịch Covid-19, rất nhiều người dân đã tự giác khai báo y tế, chấp hành giãn cách, nhiều nơi lập “cây ATM gạo” để giúp người lao động nghèo. Chính tinh thần ấy đã giúp đất nước vượt qua giai đoạn khó khăn.

Vì sao ý thức cộng đồng lại quan trọng như vậy? Bởi vì không ai sống được một mình. Con đường ta đi, công viên ta chơi, ngôi trường ta học đều là của chung. Khi mỗi người giữ gìn một chút, tài sản chung sẽ bền đẹp; khi mỗi người buông lỏng một chút, cái giá phải trả sẽ là của tất cả. Người có ý thức cộng đồng còn nhận lại sự tin yêu, tôn trọng của mọi người xung quanh.

Đáng buồn là vẫn còn những người nghĩ “việc chung đã có người khác lo”. Họ xả rác ở bãi biển, viết bậy lên di tích, chen lấn ở nơi công cộng. Có người còn cho rằng sống vì cộng đồng tức là đánh mất cái tôi. Thật ra không phải vậy: hoà nhập không phải là hoà tan, ta vẫn có cá tính và chính kiến, chỉ là biết đặt chúng trong sự tôn trọng người khác.

Là học sinh, em có thể bắt đầu từ lớp học của mình: giữ vệ sinh phòng học, tắt quạt khi ra về, giúp bạn học yếu, tham gia các hoạt động quyên góp của trường. Như Bác Hồ từng dặn thiếu nhi: “Tuổi nhỏ làm việc nhỏ, tuỳ theo sức của mình”. Những việc nhỏ ấy, nếu ai cũng làm, sẽ góp thành một cộng đồng văn minh.

Bài mẫu 2: Trách nhiệm của mỗi người với nơi mình sinh sống

Mỗi người đều có một nơi để trở về: một xóm nhỏ ven sông, một khu tập thể cũ hay một con phố đông người. Nơi ấy cho ta chỗ ở, cho ta hàng xóm, bạn bè và cả những kỉ niệm tuổi thơ. Theo em, đã được nơi mình sống nuôi dưỡng thì mỗi người phải có trách nhiệm gìn giữ và làm cho nó tốt đẹp hơn.

Trách nhiệm với nơi mình sinh sống trước hết là giữ cho môi trường xanh, sạch. Ở nhiều địa phương, các nhóm thanh niên đã tổ chức “Ngày chủ nhật xanh” để vớt rác trên kênh, trồng cây dọc đường làng. Nhờ đó những dòng kênh từng đen kịt dần trong trở lại. Trách nhiệm ấy còn là tôn trọng nếp sống chung: chào hỏi hàng xóm, không gây ồn ào, hỏi han khi nhà bên có chuyện. Một khu phố mà mọi người quan tâm nhau thì dễ trở nên an toàn và ấm áp.

Không ít người coi nơi ở chỉ là “chỗ ngủ qua đêm”. Họ để nước thải chảy ra đường, lấn chiếm vỉa hè, thờ ơ với các cuộc họp tổ dân phố. Cách sống ấy vừa làm xấu cảnh quan, vừa làm rạn tình làng nghĩa xóm. Đến khi khu phố ngập rác hay mất trật tự thì chính họ cũng chịu thiệt.

Vì thế, mỗi học sinh có thể làm những việc vừa sức: phân loại rác ở nhà, tham gia dọn vệ sinh khu phố, giới thiệu món ăn hay nghề truyền thống quê mình với bạn bè. Yêu quê hương không phải điều gì xa xôi, nó bắt đầu từ việc giữ sạch con ngõ trước cửa nhà.

Tham khảo thêm: Nghị luận về trách nhiệm của con người đối với nơi mình sinh sống.

Bài mẫu 3: Học sinh với việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt

Tiếng Việt là tài sản chung của cả dân tộc. Nhờ tiếng Việt mà cha ông ta lưu giữ được ca dao, truyện cổ, những áng văn yêu nước. Thế nhưng ngày nay, trên mạng xã hội và ngay trong lớp học, tiếng Việt đang bị dùng tuỳ tiện. Em cho rằng giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt là trách nhiệm của mọi người, và học sinh phải đi đầu.

Sự trong sáng của tiếng Việt thể hiện ở việc dùng từ đúng nghĩa, viết đúng chính tả, nói câu đúng ngữ pháp, không chen tiếng nước ngoài một cách không cần thiết và không dùng lời lẽ thô tục. Hiện nay, nhiều bạn quen viết tắt, cố tình viết sai, hoặc nói câu nửa Việt nửa Anh khi không cần. Có bạn còn mang thói quen ấy vào bài kiểm tra, khiến bài văn lủng củng, khó hiểu.

Có ý kiến cho rằng ngôn ngữ thì phải thay đổi theo thời đại. Điều đó đúng một phần: tiếng Việt vẫn tiếp nhận những từ mới để gọi tên sự vật mới, như “in-tơ-nét” hay “rô-bốt”. Nhưng tiếp nhận có chọn lọc khác hẳn với dùng tuỳ tiện. Khi tiếng Việt bị pha tạp đến mức người lớn tuổi không hiểu, ngôn ngữ ấy không còn làm tốt việc gắn kết mọi người.

Học sinh có thể giữ gìn tiếng Việt bằng những việc cụ thể: đọc sách để giàu vốn từ, tự soát lỗi chính tả trước khi nộp bài, nói năng lịch sự trong nhóm chat của lớp. Giữ cho tiếng nói trong sáng cũng là một cách yêu nước rất gần gũi.

Xem thêm: Nghị luận về học sinh với việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.

Bài mẫu 4: Hiểu biết lịch sử bồi đắp lòng yêu nước

Có lần em đến thăm một nghĩa trang liệt sĩ ở quê ngoại. Đứng trước những hàng bia mộ, nhiều ngôi mộ ghi tuổi chỉ mới mười tám, đôi mươi, em mới hiểu những trang sử trong sách là máu xương có thật. Từ trải nghiệm ấy, em tin rằng hiểu biết lịch sử là nền móng của lòng yêu nước.

Lòng yêu nước không tự nhiên mà có, cũng không chỉ là khẩu hiệu. Ta chỉ thực sự yêu điều mình hiểu. Khi biết cha ông đã dựng nước, giữ nước qua bao thế hệ, từ chiến thắng Bạch Đằng đến chiến dịch Điện Biên Phủ, ta mới thấy độc lập hôm nay quý giá thế nào. Hiểu lịch sử cũng giúp ta nhận ra chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, để biết trân trọng và lên tiếng bảo vệ.

Đáng tiếc, vẫn còn bạn coi môn Lịch sử là môn “học thuộc cho qua”, nhớ tên nhân vật trong phim nước ngoài hơn tên các anh hùng dân tộc. Có người còn dễ tin những thông tin xuyên tạc lịch sử trên mạng. Thiếu hiểu biết lịch sử, con người dễ thờ ơ và dễ bị lôi kéo.

Bởi vậy, mỗi học sinh nên học lịch sử bằng sự tò mò: đọc sách, xem phim tư liệu, đi thăm bảo tàng, di tích, trò chuyện với ông bà về những năm tháng đã qua. Hiểu quá khứ là cách tốt nhất để sống có trách nhiệm với hiện tại.

Đọc thêm: Nghị luận về vai trò của hiểu biết lịch sử trong việc bồi đắp lòng yêu nước.

Bài mẫu 5: Tinh thần tình nguyện của tuổi trẻ

Mỗi mùa hè, những chiếc áo xanh tình nguyện lại xuất hiện ở các bản làng vùng cao, các vùng ngập lũ hay ở cổng bệnh viện. Hình ảnh ấy cho thấy một điều: tuổi trẻ không chỉ sống cho mình mà còn biết sống cho mọi người. Theo em, tinh thần tình nguyện là một trong những biểu hiện đẹp nhất của mối quan hệ giữa con người với cộng đồng.

Tình nguyện là tự mình đem thời gian, sức lực, hiểu biết đến giúp người khác mà không đòi hỏi được trả công. Đó có thể là dạy chữ cho trẻ em vùng khó khăn, sửa nhà cho người nghèo, tiếp sức mùa thi, hay đơn giản là gom sách cũ cho thư viện xã. Mỗi lần thiên tai xảy ra, rất nhiều bạn trẻ đã tự nguyện đóng gói hàng cứu trợ suốt đêm.

Tình nguyện giúp ích cho cộng đồng, nhưng người được lợi nhiều nhất lại chính là người đi giúp. Các bạn học được cách làm việc nhóm, biết thêm về cuộc sống của những người kém may mắn và trở nên biết ơn những gì mình đang có. Tuy vậy, cũng có người đi tình nguyện chỉ để chụp ảnh “khoe” lên mạng, làm cho có rồi bỏ dở. Kiểu tình nguyện hình thức ấy không giúp được ai, thậm chí còn làm phiền người dân địa phương.

Học sinh lớp 8 chưa thể đi xa, nhưng hoàn toàn có thể tình nguyện ngay ở trường: tham gia đội thư viện, kèm bạn học chậm, góp áo ấm cho học sinh vùng cao. Khi cho đi bằng tấm lòng thật, ta sẽ thấy mình lớn lên.

5. Những lỗi học sinh hay mắc

  • Chọn vấn đề quá rộng: viết “về đất nước” chung chung khiến bài loãng. Hãy thu hẹp thành một khía cạnh cụ thể.
  • Bằng chứng bịa hoặc mơ hồ: tự đặt số liệu không có nguồn sẽ làm giảm sức thuyết phục. Nên dùng trải nghiệm thật hoặc sự kiện ai cũng biết.
  • Thiếu phần phản biện: bài chỉ khen một chiều thì thiếu chiều sâu.
  • Giải pháp chung chung: những câu như “mỗi người cần nâng cao ý thức” mà không nói rõ làm gì.
  • Lạm dụng câu khẩu hiệu: nên dùng ngôn ngữ của chính mình, chân thành và cụ thể.

6. Đề luyện tập tự viết

  1. Đề: Suy nghĩ về hiện tượng thờ ơ trước khó khăn của người khác. Gợi ý: giải thích “thờ ơ”; nêu biểu hiện (đứng xem quay phim khi có tai nạn); tác hại; phân biệt với sự thận trọng hợp lí; giải pháp.
  2. Đề: Học sinh với việc xây dựng trường học thân thiện. Gợi ý: tôn trọng bạn và thầy cô, nói không với bạo lực học đường, giữ cảnh quan trường lớp. Tham khảo bài mẫu trường học thân thiện.
  3. Đề: Giữ gìn và phát huy giá trị văn hoá dân tộc. Gợi ý: trang phục, lễ hội, món ăn, nghề truyền thống; tiếp thu văn hoá thế giới có chọn lọc. Tham khảo bài mẫu về văn hoá dân tộc.

7. Tài liệu Ngữ văn 8 Kết nối tri thức hữu ích

Câu hỏi thường gặp

Bài nghị luận về một vấn đề đời sống lớp 8 cần có những phần nào?

Bài cần có mở bài nêu vấn đề và quan điểm; thân bài gồm giải thích, các luận điểm có lí lẽ và bằng chứng, phần phản biện ý kiến trái chiều, giải pháp; kết bài khẳng định lại quan điểm và rút ra bài học.

Nên chọn vấn đề nào để viết cho dễ?

Nên chọn vấn đề gần gũi mà em có trải nghiệm thật, như ý thức cộng đồng, trách nhiệm với nơi mình sống, giữ gìn tiếng Việt, tinh thần tình nguyện hay xây dựng trường học thân thiện.

Bằng chứng trong bài nghị luận lấy từ đâu?

Em có thể lấy từ trải nghiệm của bản thân, sự việc có thật ở địa phương, sự kiện lịch sử hoặc xã hội ai cũng biết. Không nên bịa số liệu vì như vậy bài sẽ kém thuyết phục.

Phần phản biện viết thế nào cho thuyết phục?

Em nêu một biểu hiện hoặc quan niệm trái ngược, thừa nhận phần hợp lí (nếu có) rồi dùng lí lẽ và ví dụ chỉ ra chỗ sai, từ đó làm rõ hơn quan điểm của mình.