Lý thuyết Sử 12 Bài 17: Nước VNDCCH từ sau 2-9-1945 đến trước 19-12-1946

Trả lời nhanh

Sử 12 Bài 17 (chương trình cũ) học về hơn 15 tháng đầu của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đất nước rơi vào tình thế “ngàn cân treo sợi tóc” vì giặc ngoài, thù trong, nạn đói, nạn dốt và tài chính trống rỗng. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, ta xây dựng chính quyền, giải quyết nạn đói, nạn dốt và khó khăn tài chính. Ta cũng đánh Pháp ở Nam Bộ, hòa hoãn với Tưởng, rồi hòa với Pháp để đuổi Tưởng (Hiệp định Sơ bộ 6-3-1946).

Bài này nằm ở đầu giai đoạn 1945–1954 trong sách Lịch sử 12 (chương trình cũ). Đề thi hay hỏi về các mốc thời gian, số liệu (20 vạn quân Tưởng, 333 đại biểu, 15.000 quân Pháp…) và nhất là câu hỏi “vì sao ta lại chọn sách lược đó”. Thầy chia bài thành 3 phần đúng như SGK, sau đó có trục thời gian, bảng so sánh và phần luyện tập.

I. Tình hình nước ta sau Cách mạng tháng Tám năm 1945

1. Khó khăn

  • Chính quyền non trẻ: bộ máy nhà nước mới ra đời, chưa được củng cố. Lực lượng vũ trang còn yếu, thiếu vũ khí và kinh nghiệm.
  • Giặc ngoài và thù trong:
    • Từ vĩ tuyến 16 trở ra Bắc có khoảng 20 vạn quân Trung Hoa Dân quốc (quân Tưởng) vào giải giáp quân Nhật. Đi theo chúng là các tổ chức phản động Việt Quốc, Việt Cách, âm mưu lật đổ chính quyền cách mạng.
    • Từ vĩ tuyến 16 trở vào Nam có hơn 1 vạn quân Anh, dọn đường cho thực dân Pháp quay lại xâm lược.
    • Cả nước còn khoảng 6 vạn quân Nhật chờ giải giáp, một bộ phận bị Anh lợi dụng để chống phá ta.
    • Các thế lực phản cách mạng trong nước hoạt động chống phá khắp nơi.
  • Kinh tế – tài chính: nền nông nghiệp lạc hậu, bị chiến tranh tàn phá, lại gặp lũ lụt và hạn hán. Hậu quả nạn đói đầu năm 1945 còn nặng nề. Ngân sách gần như trống rỗng: kho bạc chỉ còn hơn 1,2 triệu đồng, phần lớn là tiền rách. Ta chưa kiểm soát được Ngân hàng Đông Dương, trong khi quân Tưởng lại tung tiền quan kim, quốc tệ ra thị trường.
  • Văn hóa – xã hội: hơn 90% dân số mù chữ. Các tệ nạn mê tín dị đoan, cờ bạc, nghiện hút lan tràn.

Những khó khăn đó đẩy nước ta vào tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”. Trong số đó, giặc ngoại xâm và nội phản là nguy hiểm nhất, vì chúng đe dọa trực tiếp sự tồn tại của chính quyền.

2. Thuận lợi

  • Nhân dân đã giành quyền làm chủ, phấn khởi và gắn bó với chế độ mới.
  • Cách mạng có Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo, uy tín rất lớn.
  • Trên thế giới, hệ thống xã hội chủ nghĩa đang hình thành và phong trào giải phóng dân tộc lên cao.

Cách nhớ: khó khăn thì nhiều và cấp bách, còn thuận lợi thì cơ bản và lâu dài. Thuận lợi cơ bản nhất là lòng tin của nhân dân và sự lãnh đạo của Đảng.

II. Xây dựng chính quyền, giải quyết nạn đói, nạn dốt và khó khăn tài chính

1. Xây dựng chính quyền cách mạng

  • 8-9-1945: Chính phủ lâm thời ra sắc lệnh tổng tuyển cử.
  • 6-1-1946: Tổng tuyển cử bầu Quốc hội trong cả nước. Hơn 90% cử tri đi bầu và bầu ra 333 đại biểu. Đây là lần đầu tiên nhân dân Việt Nam được tự mình bầu ra cơ quan quyền lực cao nhất.
  • 2-3-1946: Quốc hội khóa I họp phiên đầu tiên. Quốc hội xác nhận thành tích của Chính phủ lâm thời, lập Chính phủ liên hiệp kháng chiến do Hồ Chí Minh đứng đầu và lập Ban dự thảo Hiến pháp.
  • Các địa phương ở Bắc Bộ và Trung Bộ bầu Hội đồng nhân dân các cấp.
  • 29-5-1946: thành lập Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam (Liên Việt) để mở rộng khối đoàn kết.
  • 22-5-1946: Việt Nam giải phóng quân đổi tên thành Quân đội quốc gia Việt Nam.
  • 9-11-1946: Quốc hội thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Ý nghĩa: giáng một đòn vào âm mưu chia rẽ và lật đổ của kẻ thù. Bộ máy nhà nước có cơ sở pháp lý vững chắc, đủ tư cách đại diện cho nhân dân trong quan hệ đối nội và đối ngoại.

2. Giải quyết nạn đói

Biện pháp trước mắt Biện pháp lâu dài
Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi “nhường cơm sẻ áo” và tự mình gương mẫu thực hiện. Nhân dân lập “hũ gạo cứu đói”, tổ chức “ngày đồng tâm”. Nhà nước nghiêm trị kẻ đầu cơ tích trữ, cấm dùng gạo nấu rượu. Phát động phong trào tăng gia sản xuất, khẩu hiệu “Tấc đất tấc vàng”, “Không một tấc đất bỏ hoang”. Bãi bỏ thuế thân và nhiều thứ thuế vô lý. Giảm tô 25%, chia lại ruộng đất công, tạm cấp ruộng đất bỏ hoang cho nông dân.

Kết quả: sản xuất nông nghiệp nhanh chóng được phục hồi và nạn đói được đẩy lùi.

3. Giải quyết nạn dốt

  • 8-9-1945: Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh thành lập Nha Bình dân học vụ, cơ quan chuyên trách việc chống “giặc dốt”, đồng thời kêu gọi toàn dân tham gia xóa mù chữ.
  • Từ tháng 9-1945 đến tháng 9-1946, cả nước mở hơn 75.000 lớp học và xóa mù chữ cho khoảng 2,5 triệu người.
  • Các trường phổ thông và đại học sớm khai giảng, nội dung và phương pháp giáo dục bước đầu đổi mới theo tinh thần dân tộc, dân chủ.

4. Giải quyết khó khăn về tài chính

  • Dựa vào lòng yêu nước của nhân dân: xây dựng “Quỹ độc lập” và tổ chức “Tuần lễ vàng”. Nhân dân đóng góp được 370 kg vàng, 20 triệu đồng cho Quỹ độc lập và 40 triệu đồng cho Quỹ đảm phụ quốc phòng.
  • 31-1-1946: Chính phủ ra sắc lệnh phát hành tiền Việt Nam.
  • 23-11-1946: Quốc hội quyết định cho tiền Việt Nam lưu hành trong cả nước.

Lưu ý: nhiều bạn nhầm “Tuần lễ vàng” là biện pháp chống đói. Thực ra đây là biện pháp tài chính.

III. Đấu tranh chống ngoại xâm và nội phản, bảo vệ chính quyền

1. Kháng chiến chống Pháp trở lại xâm lược Nam Bộ

  • Đêm 22 rạng sáng 23-9-1945, được quân Anh giúp sức, thực dân Pháp đánh úp trụ sở Ủy ban nhân dân Nam Bộ và cơ quan tự vệ thành phố Sài Gòn. Cuộc xâm lược lần thứ hai bắt đầu.
  • Quân dân Sài Gòn – Chợ Lớn và Nam Bộ đứng lên chống trả: đốt tàu, phá kho, đánh vào các vị trí địch, triệt nguồn tiếp tế trong thành phố.
  • Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh huy động cả nước chi viện. Hàng vạn thanh niên vào Nam chiến đấu trong các đoàn quân “Nam tiến”.

2. Hòa hoãn với quân Tưởng ở miền Bắc (từ 9-1945 đến trước 6-3-1946)

Vì sao phải hòa hoãn? Ta cần tập trung lực lượng đánh Pháp ở miền Nam và tránh phải chống lại nhiều kẻ thù cùng một lúc. Quân Tưởng lại rất đông và có tay sai đi theo.

  • Nhường cho Việt Quốc, Việt Cách 70 ghế trong Quốc hội không qua bầu cử, 4 ghế bộ trưởng, ghế Phó Chủ tịch nước (Nguyễn Hải Thần).
  • Cung cấp một phần lương thực cho quân Tưởng, cho tiêu tiền quan kim, quốc tệ.
  • 11-11-1945: Đảng tuyên bố “tự giải tán”, thực chất là rút vào hoạt động bí mật, chỉ để lại một bộ phận công khai là “Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác ở Đông Dương”.
  • Song song với nhân nhượng, ta kiên quyết trấn áp bọn phản cách mạng có đủ bằng chứng theo các sắc lệnh của Chính phủ.

3. Hòa với Pháp để đuổi Tưởng (từ 6-3-1946 đến trước 19-12-1946)

  • 28-2-1946: Pháp và Tưởng ký Hiệp ước Hoa – Pháp. Theo đó Tưởng rút quân về nước, Pháp ra Bắc thay chân Tưởng, đổi lại Pháp trả Tưởng một số quyền lợi ở Trung Quốc. Ta buộc phải chọn: đánh Pháp hay hòa với Pháp.
  • 3-3-1946: Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị “Tình hình và chủ trương”, chọn giải pháp “hòa để tiến”.
  • 6-3-1946: Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Hiệp định Sơ bộ với đại diện Pháp. Nội dung chính:
    • Pháp công nhận Việt Nam là một quốc gia tự do, có chính phủ, nghị viện, quân đội và tài chính riêng, nằm trong khối Liên hiệp Pháp.
    • Việt Nam đồng ý cho 15.000 quân Pháp ra Bắc thay quân Tưởng. Số quân này sẽ rút dần trong 5 năm.
    • Hai bên ngừng bắn ở Nam Bộ, tạo không khí thuận lợi cho đàm phán chính thức.
  • Sau đó có hội nghị trù bị ở Đà Lạt (tháng 4-1946), rồi đàm phán chính thức ở Phông-ten-nơ-blô (Pháp) từ tháng 7-1946. Cả hai đều thất bại vì Pháp ngoan cố.
  • 14-9-1946: Chủ tịch Hồ Chí Minh ký với Pháp bản Tạm ước, nhân nhượng thêm cho Pháp một số quyền lợi kinh tế, văn hóa. Mục đích là kéo dài thời gian hòa hoãn để chuẩn bị kháng chiến.

Ý nghĩa của Hiệp định Sơ bộ: ta tránh được cuộc chiến đấu bất lợi với nhiều kẻ thù cùng lúc. Ta đẩy được 20 vạn quân Tưởng cùng tay sai ra khỏi nước, có thêm thời gian hòa bình để củng cố lực lượng và chuẩn bị cho kháng chiến lâu dài.

Bảng so sánh hai sách lược đối ngoại

Tiêu chí Hòa với Tưởng, đánh Pháp Hòa với Pháp, đuổi Tưởng
Thời gian 9-1945 đến trước 6-3-1946 6-3-1946 đến trước 19-12-1946
Kẻ thù chính lúc đó Thực dân Pháp ở Nam Bộ Quân Tưởng và tay sai ở miền Bắc
Văn bản, sự kiện then chốt Nhường ghế Quốc hội, Chính phủ; Đảng rút vào bí mật Hiệp định Sơ bộ 6-3, Tạm ước 14-9
Điểm chung Lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù; nhân nhượng có nguyên tắc; giữ vững chính quyền; tranh thủ thời gian chuẩn bị lực lượng

Mẹo nhớ và lỗi sai thường gặp

  • Nhóm ngày tháng “8-9”: ngày 8-9-1945 vừa có sắc lệnh tổng tuyển cử, vừa có sắc lệnh lập Nha Bình dân học vụ. Hãy nhớ “một ngày, hai sắc lệnh”.
  • Cặp “28-2” và “6-3”: Hiệp ước Hoa – Pháp có trước, Hiệp định Sơ bộ có sau. Phải có việc Pháp – Tưởng bắt tay thì ta mới cần “hòa để tiến”.
  • “Tự do” không phải “độc lập”: Hiệp định Sơ bộ chỉ công nhận Việt Nam là quốc gia tự do trong khối Liên hiệp Pháp. Pháp chưa công nhận độc lập, thống nhất. Đây là bẫy rất hay gặp trong đề thi.
  • Quốc hội họp ngày 2-3-1946, không phải 3-2. Đừng nhầm với ngày thành lập Đảng 3-2-1930.
  • Khó khăn nguy hiểm nhất là giặc ngoại xâm và nội phản, không phải nạn đói. Nạn đói là khó khăn cấp bách đầu tiên.

Câu hỏi trắc nghiệm luyện tập có đáp án

Câu 1. Khó khăn nguy hiểm nhất của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sau Cách mạng tháng Tám là gì?
A. Nạn đói. B. Nạn dốt. C. Ngân sách trống rỗng. D. Giặc ngoại xâm và nội phản.
Đáp án D. Giặc ngoại xâm và nội phản đe dọa trực tiếp sự tồn tại của chính quyền. A, B, C tuy nặng nề nhưng có thể khắc phục dần nếu chính quyền còn.

Câu 2. Cuộc Tổng tuyển cử ngày 6-1-1946 bầu ra bao nhiêu đại biểu Quốc hội?
A. 300. B. 333. C. 350. D. 403.
Đáp án B. 333 đại biểu được bầu. Con số 403 là tổng số đại biểu sau khi cộng thêm 70 ghế dành cho Việt Quốc, Việt Cách.

Câu 3. Theo Hiệp định Sơ bộ 6-3-1946, Pháp công nhận Việt Nam là
A. quốc gia độc lập. B. quốc gia tự do. C. quốc gia tự trị. D. quốc gia thống nhất.
Đáp án B. Phương án A và D là những quyền dân tộc cơ bản mà Pháp không chịu thừa nhận. C là cách gọi của chế độ thuộc địa trá hình, không có trong hiệp định.

Câu 4. “Tuần lễ vàng” nhằm giải quyết khó khăn nào?
A. Nạn đói. B. Tài chính. C. Nạn dốt. D. Quân sự.
Đáp án B. Đây là phong trào quyên góp vàng để xây dựng nền tài chính cho Nhà nước mới.

Câu 5. Sự kiện nào trực tiếp buộc ta chuyển sang sách lược “hòa để tiến”?
A. Pháp đánh Sài Gòn (23-9-1945). B. Hiệp ước Hoa – Pháp (28-2-1946). C. Hội nghị Đà Lạt. D. Tạm ước 14-9-1946.
Đáp án B. Pháp và Tưởng bắt tay nhau, đặt ta trước việc chọn đánh hay hòa với Pháp. Các sự kiện C, D diễn ra sau khi ta đã chọn hòa.

Câu 6 (tự luận ngắn). Vì sao nói việc ký Hiệp định Sơ bộ là một chủ trương sáng suốt?
Gợi ý: ta lợi dụng mâu thuẫn Pháp – Tưởng, đẩy được 20 vạn quân Tưởng về nước, tránh chiến đấu cùng lúc với nhiều kẻ thù. Ta cũng có thêm thời gian để củng cố chính quyền và chuẩn bị kháng chiến lâu dài, đồng thời không từ bỏ mục tiêu độc lập.

Tài liệu ôn tập Bài 17

  • Trắc nghiệm Sử 12 Bài 17 có đáp án – Phần 1
  • Trắc nghiệm Sử 12 Bài 17 – Phần 2
  • Trắc nghiệm Sử 12 Bài 17 – Phần 3
  • Lý thuyết Lịch sử 12 Bài 17 (bản rút gọn)
  • Giải bài tập SGK Lịch sử 12 Bài 17
  • Giải Lịch sử 12 Bài 17
  • Giải SBT Lịch sử 12 Bài 17

Học tiếp các bài sau

Muốn học tốt bài này, các em đừng học thuộc rời rạc từng ngày tháng. Hãy luôn hỏi “kẻ thù chính lúc này là ai, ta nhân nhượng ai, để đạt được gì”. Hiểu được mạch đó thì các mốc thời gian sẽ tự nối vào nhau.

Câu hỏi thường gặp

Vì sao nói sau Cách mạng tháng Tám nước ta ở thế "ngàn cân treo sợi tóc"?

Vì cùng lúc ta phải đối phó với giặc ngoài (20 vạn quân Tưởng, quân Anh – Pháp, 6 vạn quân Nhật), thù trong, nạn đói, nạn dốt và ngân sách trống rỗng, trong khi chính quyền và lực lượng vũ trang còn non yếu.

Hiệp định Sơ bộ 6-3-1946 có nội dung chính gì?

Pháp công nhận Việt Nam là quốc gia tự do, có chính phủ, nghị viện, quân đội và tài chính riêng, nằm trong khối Liên hiệp Pháp. Việt Nam cho 15.000 quân Pháp ra Bắc thay quân Tưởng, số quân này rút dần trong 5 năm. Hai bên ngừng bắn ở Nam Bộ.

Ta đã giải quyết khó khăn tài chính như thế nào?

Ta dựa vào nhân dân qua "Quỹ độc lập" và "Tuần lễ vàng". Ngày 31-1-1946 Chính phủ ra sắc lệnh phát hành tiền Việt Nam, và ngày 23-11-1946 tiền Việt Nam được lưu hành trong cả nước.

Đảng tuyên bố "tự giải tán" ngày 11-11-1945 nhằm mục đích gì?

Đảng muốn tránh mũi nhọn tấn công của quân Tưởng và tay sai. Thực chất Đảng rút vào hoạt động bí mật, chỉ để lại bộ phận công khai là Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác ở Đông Dương, và vẫn tiếp tục lãnh đạo cách mạng.