Yếu tố kì ảo đền Tản Viên trong truyện Nguyễn Dữ và Nguyễn Tuân

Trả lời nhanh

Yếu tố kì ảo đền tản viên. Trong Chuyện chức phán sự đền Tản Viên, Nguyễn Dữ dùng ma quỷ, âm phủ và chức quan cõi thiêng để xử một vụ chiếm đền: cái ác có tên, người ngay Ngô Tử Văn được minh oan. Trong Trên đỉnh non Tản, Nguyễn Tuân dùng Sơn thần, phép đưa thợ lên núi và con trúc đao để giữ bí mật của Đền Thượng, đồng thời tôn người thợ mộc tài hoa. Cùng ngọn Tản Viên, kì ảo một bên là công đường, một bên là lời thề và cái đẹp của nghề. Một số bài trên mạng kể nhầm Trên đỉnh non Tản thành chuyện người lính tìm kỉ vật; đó không phải văn bản trong sách.

Dàn ý so sánh

Đề thuộc kiểu nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện, trong Ngữ văn 12 Chân trời sáng tạo. Em không kể song song hai cốt truyện từ đầu đến cuối. Em chọn đúng một tiêu chí: vai trò, tác dụng của yếu tố kì ảo.

Mở bài một đoạn. Nêu đủ hai tên tác phẩm, hai tác giả, rồi một câu định hướng: kì ảo ở hai bài không làm cùng một việc. Có thể nhắc cả hai đều lấy núi Tản Viên, ngọn núi của Sơn Tinh trong tín ngưỡng dân gian, thuộc dãy Ba Vì.

Thân bài nên ba luận điểm, không năm. Luận điểm một nói chỗ giống, cho có đối tượng so sánh: đều có thần, có phép, có sự vượt khỏi quy luật đời thường, và người trần đều phải ứng xử trước lực lượng ấy. Luận điểm hai đi vào Nguyễn Dữ: đốt đền, báo mộng, phiên xử trước Diêm Vương, chức phán sự. Với mỗi chi tiết, em nói chi tiết ấy buộc người đọc tin điều gì về công lý. Luận điểm ba đi vào Nguyễn Tuân: Sơn thần chọn thợ, lệnh không được kể, cái chết của người hé miệng, ngòi trúc trong nhọt, cảnh đền và nghề mộc. Em nói chi tiết ấy bảo vệ điều gì: lời hứa, bí mật của chốn thiêng, và sự kính trọng người có nghề.

Mỗi luận điểm cần một câu đối chiếu ngắn, không đợi đến kết bài mới so. Ví dụ sau khi kể phiên xử, em viết một câu: bên Nguyễn Tuân không có bị cáo và người làm chứng, chỉ có lời thề và hình phạt nếu thất hứa. Như vậy bài là so sánh, không phải hai bài phân tích đặt cạnh nhau.

Kết bài không thêm ý mới. Chốt: kì ảo là cách mỗi tác giả cho lực lượng siêu nhiên làm một việc trần thế không làm nổi. Với Nguyễn Dữ, việc ấy là xử đúng. Với Nguyễn Tuân, việc ấy là giữ kín một vẻ đẹp và một nghề. Một câu em học được gì thì đủ, tránh khẩu hiệu.

So sánh yếu tố kì ảo ở Nguyễn Dữ và Nguyễn Tuân quanh núi Tản Viên
Hình 1. Cùng ngọn Tản Viên, một bên kì ảo để xử án, một bên kì ảo để giữ lời và giữ nghề.

Bài ngắn

Chuyện chức phán sự đền Tản Viên của Nguyễn Dữ và Trên đỉnh non Tản của Nguyễn Tuân cùng gọi Sơn thần núi Tản, nhưng yếu tố kì ảo trong hai tác phẩm không phục vụ một mục đích.

Ở Nguyễn Dữ, kì ảo là một công đường. Hồn viên tướng phương Bắc chiếm đền của Thổ công. Ngô Tử Văn đốt đền, bị kéo xuống âm phủ, đối chất trước Diêm Vương. Nhờ lời chứng của Thổ công và sự cứng cỏi của Tử Văn, kẻ chiếm đền bị trừng trị, Tử Văn được giao chức phán sự đền Tản Viên. Ma, mộng và cõi âm không để chuyện thêm li kì. Chúng tạo ra nơi phiên xử mà ở đời, một kẻ sĩ khó tìm được khi gian tà núp sau hương khói.

Ở Nguyễn Tuân, kì ảo là một lời cấm. Sơn thần vài năm lại xuống làng thợ mộc, chọn người tài lên trùng tu Đền Thượng, và bắt họ không được kể những gì đã thấy. Nhiêu Tàm kể ra thì chết; trong nhọt ở cổ có một ngòi tựa lá trúc. Con trúc đao không xét xử một vụ án xã hội. Nó giữ miệng những người đã được nhìn thấy chốn thiêng, để nghề mộc và núi Tản còn là điều đáng kính, không phải câu chuyện đem pha trò.

Vì vậy, đọc hai bài em không nên gom chung thành “cả hai đều huyền ảo”. Một bên mượn thần để đòi công bằng. Một bên mượn thần để giữ một bí mật của cái đẹp và của người thợ.

Bài vừa

Yếu tố kì ảo chỉ thực sự có vai trò khi bỏ nó đi thì tác phẩm sụp một ý, không chỉ sụp một cảnh cho vui mắt. Lấy tiêu chí ấy mà đọc Chuyện chức phán sự đền Tản Viên và Trên đỉnh non Tản, em thấy hai nhà văn cần thần linh cho hai việc khác nhau.

Nguyễn Dữ viết Chuyện chức phán sự đền Tản Viên bằng chữ Hán, trong tập Truyền kỳ mạn lục, khoảng thế kỷ XVI. Việc đời rất rõ: một kẻ ngoại xâm đã chết vẫn dựa hơi tà để chiếm chỗ thờ của vị Thổ công, dân và kẻ sĩ ở trần không dễ kiện. Tử Văn đốt đền là hành động của người sống. Nhưng nếu truyện dừng ở đống tro, Tử Văn chỉ là người cả gan, chưa phải người được minh oan, và hồn tướng giặc vẫn có thể được kể như một lời đồn. Tác giả phải mở cõi âm. Giấc mộng của Thổ công cung cấp lai lịch vụ án. Phiên xử trước Diêm Vương biến tính cương trực thành lời biện bạch có người nghe. Lời chứng của Thổ công là bằng chứng, không phải phép màu vô cớ. Kết truyện, Tử Văn nhận chức phán sự ở chính ngôi đền từng bị chiếm: người dám đốt cái sai được giao việc giữ cái đúng. Kì ảo ở đây có tác dụng của một bản án. Nó cho thấy tác giả tin rằng chính nghĩa cần một nơi để thắng, dù nơi ấy không nằm trên mặt đất.

Nguyễn Tuân viết Trên đỉnh non Tản in trong Vang bóng một thời năm 1940, khi nhiều vẻ đẹp của đời cũ đang khuất. Ông không cần một bị cáo. Ông cần một lí do để người thợ mộc Tràng Thôn, dưới chân Tản Viên, được bước vào thế giới của Sơn Tinh mà vẫn không biến thế giới ấy thành chuyện bàn tán. Sơn thần hiện xuống, chọn thợ giỏi, đưa họ lên Đền Thượng trùng tu sau những phen giao tranh với Thủy Tinh. Phép đưa người lên núi và cảnh đền đài làm ngọn Ba Vì thành chốn không ai tùy tiện mô tả. Mệnh lệnh im lặng, rồi cái chết của Nhiêu Tàm với con trúc đao trong cổ, biến sự im lặng ấy thành luật. Tác dụng của kì ảo vì thế là gìn giữ: gìn giữ lời thề, gìn giữ sự thiêng, và gìn giữ hình ảnh người thợ có tay nghề đáng được thần chọn. Nguyễn Tuân say cái tài của cụ phó Sần và phường thợ không kém say cảnh núi. Thần không xuất hiện để dạy một bài luân lí về thiện ác; thần xuất hiện để cái tài và cái kín còn có trọng lượng.

Đặt cạnh nhau, phiên xử của Nguyễn Dữ và lưỡi trúc của Nguyễn Tuân đều là hình phạt, nhưng phạt hai tội khác nhau. Một bên phạt kẻ cướp đền, lừa dân. Một bên phạt kẻ không giữ miệng. Người đọc lớp 12 cần chỉ ra sự khác ấy bằng chính chi tiết, rồi mới kết được một câu: kì ảo trong văn học trung đại này là công cụ của công lý, kì ảo trong truyện Nguyễn Tuân là cách giữ một vẻ đẹp khỏi bị nói phí.

Bài dài

Đề bài yêu cầu nghị luận về vai trò, tác dụng của yếu tố kì ảo trong Chuyện chức phán sự đền Tản Viên của Nguyễn Dữ và Trên đỉnh non Tản của Nguyễn Tuân. Hai tác phẩm cách nhau vài thế kỷ, khác thể, khác chữ viết, nhưng cùng một tọa độ tinh thần: núi Tản Viên, nơi dân gian đặt Sơn Tinh, một trong những vị được suy tôn trong hàng Tứ bất tử. Nếu chỉ dừng ở nhận xét “cả hai đều có yếu tố kì ảo”, bài chưa trả lời đề. Phải hỏi yếu tố ấy làm được việc gì cho tư tưởng của từng tác phẩm.

Chỗ giống nhau cần được nói trước, để phần khác nhau không trở thành chuyện hai tác phẩm chẳng liên quan. Cả hai đều không kể một câu chuyện thuần hiện thực. Nguyễn Dữ cho người sống gặp hồn ma, xuống âm ti, nhận chức quan sau khi chết. Nguyễn Tuân cho thần núi hiện hình giữa làng mộc, đưa thợ lên đỉnh, và để một vật nhỏ bằng lá trúc giết người thất hứa. Cả hai đều lấy niềm tin dân gian về sự linh thiêng của Tản Viên làm nền, không bịa một hệ thần hoàn toàn mới. Nhờ nền ấy, người đọc chấp nhận phép lạ như một quy ước của thể loại truyền kỳ và của không khí “vang bóng”, chứ không đòi giải thích bằng khoa học. Giống nhau dừng ở quy ước. Việc hai tác giả nhờ quy ước ấy thực hiện thì khác.

Với Nguyễn Dữ, tác dụng lớn nhất của kì ảo là làm cho công lý có thể xảy ra. Xung đột mở đầu rất trần thế và rất nhức: đền của một vị phúc thần bị hồn tướng giặc chiếm, hương khói dân vẫn thắp có khi lại nuôi kẻ từng hại nước. Tử Văn đốt đền vì không chịu sống chung với sự giả dối ấy. Nếu tác giả giữ nhân vật ở cõi người, đốt đền có thể bị kể thành tội phá hoại, và oan khuất của Thổ công không có chỗ bày. Cõi âm, vì vậy, không phải cảnh trang trí. Đó là cấp xử còn tin được lời người ngay. Diêm Vương, xét theo logic truyện, không thắng Tử Văn bằng phép thuật áp đảo; vua cõi âm nghe lẽ phải và nghe nhân chứng. Thổ công xuất hiện như một người bị hại có tên, có chuyện, không phải một làn khói. Khi Tử Văn được trắng án rồi được cử làm phán sự đền Tản Viên, yếu tố kì ảo hoàn thành tác dụng thứ hai: thưởng đúng người. Chức quan ở đền không phải đặc ân phù phiếm. Đó là cách tác giả nói rằng kẻ sĩ cương trực còn có chỗ dùng, dù chỗ ấy nằm ngoài sổ sách triều đình. Bỏ mộng, bỏ âm phủ, bỏ chức phán sự, truyện chỉ còn một người nông nổi đốt nhầm đền. Giữ chúng, truyện thành bài học về bản lĩnh và về sự thắng của chính nghĩa.

Với Nguyễn Tuân, tác dụng của kì ảo nằm ở chỗ khác. Trên đỉnh non Tản không tổ chức một vụ kiện. Câu chuyện theo cụ phó Sần và những người thợ được Sơn thần tuyển, khoảng vài năm đến chục năm một lần, để sửa Đền Thượng sau những phen Thủy Tinh động đến núi. Họ được thấy gỗ quý, đá, voi trắng chở gỗ, cả một gia trang của thần trên đỉnh, với điều kiện không kể. Điều kiện ấy mới là trục. Nhiêu Tàm vi phạm thì chết một cách không giống bệnh đời thường: nhọt ở cổ, nặn ra một ngòi xanh hình lá trúc. Cụ Sần giữ cái ngòi ấy, cắm vào chậu, nó thành một cây trúc một lá, nhắc cả phường thợ nhớ câu giữ miệng. Con trúc đao vì thế có tác dụng kép. Với thế giới trong truyện, nó là hình phạt và là bài học. Với người đọc, nó là dấu ấn của Nguyễn Tuân: một chi tiết nhỏ, sắc, có nghề, biến đạo lí “có mồm thì cắp, có nắp thì đậy” thành vật nhìn thấy được. Phép thần đưa thợ lên núi còn một tác dụng nữa, thuộc về thẩm mĩ. Nó cho người thợ bình thường được đứng trong không gian của Tứ bất tử, nghĩa là cái tài của bàn tay được nâng ngang với sự linh thiêng. Nguyễn Tuân không dùng kì ảo để phê một tên tham quan cụ thể. Ông dùng nó để tiếc, để kính, và để bắt người đọc hạ giọng trước một vẻ đẹp không nên kể bừa.

Từ hai tác dụng ấy mới so được sòng phẳng. Không gian kì ảo của Nguyễn Dữ là công đường âm phủ, có nguyên cáo, bị cáo, nhân chứng, bản án. Không gian kì ảo của Nguyễn Tuân là đền trên núi và cái im lặng sau khi xuống núi, có thợ, có thần, có vật chứng của một lời thề, không có vành móng ngựa. Nhân vật người cũng khác nhịp. Tử Văn phải nói, phải cãi, phải không khuất trước uy danh giả của hồn tướng giặc; sự cương trực của ông là sự dám lên tiếng. Cụ Sần và phường thợ phải không nói; phẩm chất của họ là sự giữ lời và sự khéo tay. Cùng là dũng, một đằng dũng ở miệng lúc cần nói, một đằng dũng ở miệng lúc cần câm. Hình phạt cũng lệch nhau như thế: án tử hoặc án đày với kẻ xâm chiếm đền, đối lại với một cái chết kì dị dành cho kẻ ba hoa. Người đọc thấy Nguyễn Dữ lo việc đời còn nhiều oan ức, nên cần một cõi khác để xử. Nguyễn Tuân, viết năm 1940, lo một nền nếp và một nghề đang thành chuyện cũ, nên cần một cõi khác để giữ.

Kết lại, yếu tố kì ảo trong cả hai tác phẩm đều nghiêm trang, không phải mẹo gây tò mò. Nó nghiêm vì gắn với Tản Viên, một ngọn núi đã là tín ngưỡng trước khi thành chất liệu văn học. Nhưng vai trò thì không lẫn. Nguyễn Dữ nhờ thần và ma để công lý có địa chỉ. Nguyễn Tuân nhờ thần và một lá trúc để cái tài của người thợ và sự thiêng của non Tản không bị biến thành chuyện đem kể. Bài nghị luận đạt khi em chứng minh được sự khác ấy bằng đốt đền, phiên xử, chức phán sự ở một bên, và bằng lệnh im lặng, trúc đao, cảnh đền ở bên kia, chứ không bằng một câu khen cả hai cùng đặc sắc.

Câu hỏi thường gặp

Hai tác phẩm nào được đưa vào đề so sánh yếu tố kì ảo?

Chuyện chức phán sự đền Tản Viên của Nguyễn Dữ, trong Truyền kỳ mạn lục, và Trên đỉnh non Tản của Nguyễn Tuân, in ở Vang bóng một thời (1940).

Yếu tố kì ảo trong truyện Nguyễn Dữ dùng để làm gì?

Để mở một phiên xử mà trần thế không xử được: hồn tướng giặc chiếm đền bị lật mặt, Ngô Tử Văn được minh oan và nhận chức phán sự.

Con trúc đao trong Trên đỉnh non Tản là gì?

Là ngòi hình lá trúc lấy ra từ nhọt ở cổ Nhiêu Tàm, người đã hé lộ chuyện trên núi rồi chết. Chi tiết ấy trừng phạt việc thất hứa với Sơn thần.

Văn bản này thuộc sách nào lớp 12?

Ngữ văn 12 Chân trời sáng tạo, cụm bài đọc truyện có yếu tố kì ảo rồi viết bài nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm.

Có phải Trên đỉnh non Tản kể về người lính tìm kỉ vật không?

Không. Một số bài tóm tắt nhầm cốt truyện. Văn bản của Nguyễn Tuân kể làng thợ mộc dưới chân Tản Viên được Sơn thần gọi lên trùng tu Đền Thượng và phải giữ miệng.