Trả lời nhanh
Văn bản cõi lá. Cõi lá là tản văn của họa sĩ – nhà văn Đỗ Phấn (sinh năm 1956, Hà Nội), viết tháng 3/2008, in trong tập Hà Nội thì không có tuyết (NXB Trẻ, 2013). Bài văn nhìn Hà Nội qua lá cây phố khi giao mùa: lá là vẻ đẹp của đất trời, cũng là thước đo thời gian và nỗi nhớ của người ở lại lẫn người đi xa. Nên chia ba phần: cảm giác mùa xuân vừa tới; chân dung từng loại lá; và câu hỏi người đi trong “cõi lá” có trẻ lại hay chỉ tự nhận như thế. Một số tài liệu gộp hai phần sau làm một.
Tác giả Đỗ Phấn
Đỗ Phấn sinh năm 1956 tại Hà Nội. Ông viết từ những năm phổ thông, sau học hội họa và theo đuổi cả hai nghề: vẽ và viết. Hà Nội là đề tài lớn nhất của ông, không chỉ ở phố cổ hay di tích mà ở vỉa hè, gốc cây, quán nước, nhịp sống rất thường. Con mắt họa sĩ khiến trang văn của ông giàu màu và giàu hình khối: một tán lá có thể được nhìn như một mảng màu trên nền tường phố.
Tản văn là thể ông dùng nhuần khi muốn ghi một khoảnh khắc rồi suy ra một điều về người. Cõi lá thuộc mạch ấy. Bài không dựng cốt truyện, không có nhân vật chính phải giải quyết xung đột. Người kể đi, nhìn, nhớ, rồi dừng lại bằng một câu hỏi. Đó là cách một họa sĩ “ký họa” thành phố bằng chữ.
Thể loại, xuất xứ và phương thức biểu đạt
Thể loại: tản văn. Tản văn là văn xuôi ngắn, đi theo mạch cảm xúc hơn là theo biến cố. Nó được phép trộn kể, tả, bày tỏ và một chút nghị luận, miễn là giọng vẫn tự nhiên như người đang nghĩ thành tiếng.
Xuất xứ: bài đề thời gian tháng 3/2008. Sau đó được in trong tập tản văn Hà Nội thì không có tuyết, NXB Trẻ, năm 2013 (khoảng trang 64–66). Nhan đề tập đã nói trước một lựa chọn của tác giả: Hà Nội của ông không cần tuyết để thành thơ; cái đẹp nằm ở lá, ở sắc mùa của chính phố mình. Năm 2008 là năm viết, năm 2013 là năm in trong tập. Không trộn hai mốc này thành một.
Phương thức biểu đạt: kết hợp miêu tả, biểu cảm và tự sự. Chất nổi nhất là trữ tình. Một số tóm tắt chỉ ghi “biểu cảm”. Cách ghi đó hẹp, vì bài có những đoạn tả rất cụ thể từng loài cây và có những mẩu chuyện rất ngắn (đứa trẻ dưới gốc cây, người em gọi điện về hỏi lá Hồ Gươm). Biểu cảm là mạch nối, không phải phương thức duy nhất.
Bố cục bài Cõi lá
Có hai cách chia đều bám được văn bản. Cách ba phần tách bạch hơn mạch ý, nên dùng khi phân tích:
- Phần 1, từ đầu đến “xôn xao lá cành”: dấu hiệu giao mùa và cái giật mình vui khi nhận ra xuân đã tới.
- Phần 2, từ hình ảnh những cây bồ đề đến cảnh lá xà cừ phủ lối đi: chân dung từng loại lá, mỗi loài một tính cách, một mùa.
- Phần 3, đoạn kết: người đi trong “cõi lá mùa xuân thành phố”, gương mặt như trẻ lại, rồi câu hỏi “Hay tự nhận rằng mình như thế?”.
Một số lời giải chỉ chia hai phần: phần 1 giữ nguyên mốc “xôn xao lá cành”, phần 2 là toàn bộ phần còn lại đến câu tự nhận ấy. Cách hai phần không sai nếu em chứng minh được phần sau là một mạch “cây đổi thì người đổi”. Khi làm bài, em chọn một cách và phân tích nhất quán, đừng trộn mốc của cách này với tên đoạn của cách kia.
Bố cục ấy đúng tính tản văn: không có cao trào truyện, chỉ có các mảng ký họa xếp cạnh nhau. Mỗi mảng lá là một “cảnh”, các cảnh cộng lại thành cả một cõi. Người đọc nhận ra thể loại ngay ở chỗ bài dám dừng bằng câu hỏi, không cần kết luận khô.
Tóm tắt và hai lớp nghĩa của “cõi lá”
Người kể bắt gặp Hà Nội lúc lá cành xôn xao, mùa vừa chuyển. Từ đó ông đi lần qua các thứ cây quen của phố: bồ đề non màu trong, sấu cổ thụ ven đường Đinh Tiên Hoàng, bằng lăng, bàng đỏ trên đường Lê Thái Tổ, rồi cả xà cừ tưởng chỉ hợp che bóng mùa mưa. Lá không rụng cùng một lịch. Có loài cách nhau gần cả một mùa mới thay lá, nên Hà Nội hầu như lúc nào cũng có một “mùa lá” đang diễn. Ở giữa mạch ấy là nỗi nhớ: người em sống xa thành phố đã hơn hai mươi năm, lần nào gọi về cũng hỏi lá ven Hồ Gươm đã rụng chưa. Câu hỏi lặp mỗi mùa. Người ở nhà thương, và trả lời bằng sắc lá đang có thật trên phố. Bài khép lại khi người ta đi trong cõi lá xuân, mặt ai cũng như trẻ hơn, hoặc họ muốn tin mình trẻ hơn.
“Cõi lá” vì thế có hai lớp. Lớp nhìn thấy là thế giới của lá: nơi lá mọc, đổi màu, rụng, đan lên mặt đường và mặt hồ. Lớp thứ hai là cõi người. Vòng đời một chiếc lá ngắn, thường không quá một năm, nhưng chính sự ngắn ấy làm mùa lá của phố kéo dài, và làm người đi xa còn một cái mốc để hỏi thăm quê. Lá không thay được lời, nhưng lá là thứ quê hương dễ gọi tên nhất qua điện thoại.
Giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật
Nội dung. Bài nói về vẻ đẹp riêng của Hà Nội khi giao mùa, nhất là lúc xuân tới sau những đợt lá vàng, lá đỏ. Đẹp ở đây không phải công trình. Đẹp ở cây trồng ven hồ, ven đường, ở đứa trẻ dưới gốc, ở người chẳng có việc cũng vòng xe qua chỗ lá đang rộ. Thông điệp vừa tầm: thiên nhiên phố và người phố nuôi nhau; nhìn lá kỹ một chút là thấy thời gian của chính mình. Câu kết không khẳng định ai trẻ lại thật. Nó để ngỏ, nên niềm vui xuân vừa thật vừa có một chút tự trào.
Nghệ thuật. Bút pháp của người vẽ: mỗi loài lá một màu, một dáng, một “tính”. Sấu, bàng, bằng lăng, xà cừ không bị tả chung thành “cây xanh”. Xà cừ còn bị trêu là xòe xác, phải cắt cành mùa bão, rồi được minh oan vì một cơn heo may cũng đủ làm nó trải lá vàng lá xanh kín lối đi. Giọng văn thân mật, có câu hỏi, có chỗ cố ý buông lửng. Ngôn ngữ không cầu kỳ mà vẫn gợi. Chi tiết người em hỏi lá là một nút tự sự rất nhỏ, đủ kéo bài khỏi cảnh thuần miêu tả.
Em không cần chép dài nguyên văn. Khi phân tích, chỉ trích một cụm ngắn rồi nói tác dụng. Ví dụ cụm “xôn xao lá cành” mở bài bằng thính giác lẫn thị giác: mùa tới trước khi người kể kịp đặt tên mùa. Câu “Hay tự nhận rằng mình như thế?” chuyển cái đẹp của lá thành một thái độ sống: người ta được phép vui và được phép nghi chính niềm vui ấy.
Gợi ý phân tích theo từng phần
Phần mở: cái bất ngờ của giao mùa
Mùa trong bài không được báo bằng lịch. Nó được báo bằng lá cành lay động. Người Hà Nội sống giữa cây nên cái “bất ngờ” này là bất ngờ đã quen: năm nào cũng xảy ra, năm nào cũng vẫn thấy mới. Em viết được ý ấy là đã chạm mạch cảm xúc, khỏi phải kể lại cả đoạn.
Phần giữa: từng loài lá là một chân dung
Hãy chọn hai hoặc ba loài, không liệt kê hết. Bồ đề gắn với sắc non, trong, một khoảng trời sáng. Bàng và sấu gắn với sắc đỏ, sắc vàng ven hồ, thứ người ở xa nhớ trước tiên. Xà cừ là chỗ tác giả bất công rồi sửa lại: cây tưởng vô duyên hóa ra làm nên mùa thu dưới chân người đi. Cách “phản bác chính mình” này rất tản văn, và rất họa sĩ: nhìn lần hai thì màu đã khác.
Chỗ người em hỏi “lá đã rụng chưa” nên được phân tích như một motif, không phải một giai thoại vui. Câu hỏi vô lý về mặt thực vật học, vì các loài không rụng cùng lúc, nhưng hợp về mặt tình cảm: với người xa, “lá rụng” là một tín hiệu duy nhất rằng phố vẫn đổi mùa, tức là phố vẫn còn. Người ở nhà “trả lời bừa” bằng sắc lá đang thấy, vì sự thật chi li không quan trọng bằng việc cả hai còn chung một mặt hồ để mà hỏi.
Phần kết: trẻ lại hay tự nhận mình trẻ
Câu hỏi cuối không cần em chọn một đáp án. Cả hai khả năng cùng đúng một phần. Xuân và lá non làm da mặt sáng hơn; đồng thời con người cũng muốn được thấy mình như thế. “Cõi lá” khép lại bằng sự khiêm nhường: tác giả không chiếm đoạt cảm xúc của cả phố, chỉ ghi nhận và để ngỏ. Đó là thông điệp vừa sức với một tản văn ngắn, không phải bài giảng về môi trường hay về đô thị.
Cách học bài và các văn bản đọc cùng
- Học tác giả bằng vài nét chắc: năm sinh, quê, hai nghề vẽ và viết, Hà Nội là đề tài, mốc 2008 và mốc in 2013.
- Thuộc ba mốc bố cục và một câu chứng ngắn cho mỗi mốc, không học thuộc cả bài.
- Khi nghị luận, luôn nối lá với người. Tả lá suông sẽ thành bài giới thiệu cây xanh.
- Tránh biến “Cõi lá” thành bài ca ngợi chung mọi vẻ đẹp Hà Nội. Bài này chỉ chọn một cửa: lá và mùa.
Trong Ngữ văn 11 Chân trời sáng tạo, có thể đọc tiếp các văn bản cùng cụm để thấy nhiều cách viết về thiên nhiên, ký ức và người trẻ:
- Tác giả – tác phẩm: Ai đã đặt tên cho dòng sông
- Tác giả – tác phẩm: Chiều xuân
- Tác giả – tác phẩm: Trăng sáng trên đầm sen
- Tác giả – tác phẩm: Một cây bút và một quyển sách có thể thay đổi thế giới
- Tác giả – tác phẩm: Người trẻ và những hành trang vào thế kỉ XXI
Câu hỏi thường gặp
Cõi lá là thể loại gì, của ai?
Cõi lá là tản văn của Đỗ Phấn, họa sĩ và nhà văn sinh năm 1956 tại Hà Nội. Bài viết tháng 3/2008, in trong tập Hà Nội thì không có tuyết, NXB Trẻ, 2013.
Bố cục Cõi lá chia mấy phần?
Nên chia ba phần: đến “xôn xao lá cành”; đoạn tả từng loài lá; đoạn kết về người đi trong cõi lá mùa xuân. Một số bài giải chỉ chia hai phần, gộp đoạn tả lá và đoạn kết làm một.
“Cõi lá” được hiểu thế nào?
Là thế giới lá cây phố Hà Nội khi đổi mùa, đồng thời là cõi người: lá đo thời gian và là cái cớ để người đi xa hỏi thăm phố.
Phương thức biểu đạt của văn bản là gì?
Kết hợp miêu tả, biểu cảm và tự sự, trong đó chất trữ tình là mạch chính. Ghi mỗi “biểu cảm” là chưa đủ vì bài có tả cây và có mẩu chuyện rất ngắn.
Câu kết bài muốn nói điều gì?
Người đi giữa lá xuân thấy mặt mình như trẻ lại, nhưng tác giả cũng hỏi liệu đó có phải chỉ là mình tự nhận. Câu để ngỏ, không chốt một lời khẳng định.