4 bài nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ cùng hoặc khác phong cách

Trả lời nhanh

Bài nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ cần: nêu cơ sở so sánh (cùng đề tài, cùng hoặc khác phong cách); chỉ ra điểm giống và khác theo từng tiêu chí (cảm hứng, hình ảnh, cái tôi trữ tình, thể thơ, ngôn ngữ, giọng điệu); lí giải nguyên nhân khác biệt (thời đại, trào lưu, cá tính); cuối cùng đánh giá giá trị riêng của mỗi bài. Dưới đây là dàn ý và 4 bài mẫu theo 4 cặp tác phẩm khác nhau.

Hiểu đúng đề bài

Đề bài: Viết bài văn nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ cùng phong cách hoặc khác phong cách sáng tác mà bạn yêu thích.

  • Cùng phong cách: hai bài thuộc cùng một tác giả hoặc cùng một khuynh hướng (thơ trung đại cổ điển, Thơ mới lãng mạn…). Trọng tâm là tìm ra nét riêng trong cái chung.
  • Khác phong cách: hai bài thường cùng đề tài nhưng khác thời đại, khác trào lưu hoặc khác cá tính sáng tạo. Trọng tâm là lí giải vì sao cùng một đề tài lại được thể hiện khác nhau.
  • “Đánh giá” nghĩa là không dừng ở liệt kê giống – khác, mà phải nhận xét giá trị, đóng góp của từng bài.

Dàn ý chung

  1. Mở bài: giới thiệu hai tác phẩm, tác giả; nêu cơ sở so sánh và nhận định khái quát.
  2. Thân bài:
    • Khái quát hoàn cảnh ra đời, vị trí của hai bài thơ.
    • Điểm tương đồng: đề tài, cảm hứng, một số hình ảnh, bút pháp.
    • Điểm khác biệt: nội dung cảm xúc, cái tôi trữ tình, thể thơ, ngôn ngữ, hình ảnh, giọng điệu.
    • Lí giải nguyên nhân khác biệt: thời đại, trào lưu văn học, phong cách cá nhân.
    • Đánh giá: giá trị và đóng góp riêng của mỗi bài.
  3. Kết bài: khẳng định ý nghĩa của việc đặt hai bài cạnh nhau; cảm nhận của bản thân.
Tiêu chí Câu hỏi gợi ý khi so sánh
Cảm hứng, chủ đề Hai bài cùng nói về điều gì? Cảm xúc chủ đạo của mỗi bài khác nhau ra sao?
Hình ảnh Hình ảnh ước lệ hay đời thực? Tĩnh hay động? Cụ thể hay mơ hồ?
Cái tôi trữ tình Ẩn kín hay bộc lộ trực tiếp? Gắn với cộng đồng hay cá nhân?
Thể thơ, ngôn ngữ, giọng điệu Thể thơ nào, nhịp ra sao? Từ Hán Việt hay thuần Việt? Giọng trang trọng, tha thiết hay bi tráng?

Mẹo trình bày: nên so sánh song hành theo từng tiêu chí (mỗi đoạn một tiêu chí, nói cả hai bài) thay vì phân tích hết bài này rồi mới sang bài kia; cách đó làm nổi rõ đối chiếu và tránh thành hai bài phân tích rời nhau.

Bài mẫu 1 (cùng phong cách): Qua Đèo Ngang và Thu vịnh

Thơ Nôm Đường luật thời trung đại có nhiều thi phẩm tả cảnh ngụ tình đặc sắc. Đặt “Qua Đèo Ngang” của Bà Huyện Thanh Quan bên cạnh “Thu vịnh” của Nguyễn Khuyến, ta thấy hai hồn thơ cùng chung phong cách cổ điển mà vẫn mỗi người một vẻ: một nỗi hoài cổ cô đơn giữa trời đất và một nỗi buồn thời thế kín đáo của nhà nho ẩn dật.

Trước hết, hai bài thơ gặp nhau ở hình thức thất ngôn bát cú Đường luật viết bằng chữ Nôm, niêm luật chặt chẽ, hai cặp thực – luận đối chỉnh. Cả hai cùng dùng bút pháp tả cảnh ngụ tình: cảnh được chấm phá bằng vài nét, còn tình ẩn sau cảnh, đến câu kết mới hé lộ.

Nhưng cảnh và tình trong mỗi bài lại khác nhau rõ rệt. Bà Huyện Thanh Quan dừng chân ở Đèo Ngang lúc “bóng xế tà”, thời điểm gợi buồn nhất trong ngày. Cảnh rậm rạp, hoang sơ với “cỏ cây chen đá, lá chen hoa”; con người hiện lên nhỏ bé, thưa thớt qua phép đảo ngữ “lom khom… tiều vài chú”, “lác đác… chợ mấy nhà”. Âm thanh duy nhất là tiếng chim quốc quốc, gia gia, được nhà thơ dùng lối chơi chữ đồng âm để gửi nỗi “nhớ nước”, “thương nhà”. Còn Nguyễn Khuyến mở ra một bầu trời thu “xanh ngắt mấy tầng cao”, cần trúc lơ phơ, mặt nước như phủ khói, bóng trăng lặng lẽ lọt qua song thưa. Cảnh thanh, trong, cao, nhẹ – đúng hồn thu làng quê Bắc Bộ.

Khác biệt sâu nhất nằm ở cái tôi trữ tình. Câu kết “Một mảnh tình riêng, ta với ta” cho thấy nỗi cô đơn tuyệt đối: giữa trời, non, nước bao la, nhà thơ chỉ còn đối diện chính mình. Nguyễn Khuyến thì kết bằng một lời tự vấn: định cầm bút làm thơ nhưng “nghĩ ra lại thẹn với ông Đào”. Ông thẹn với Đào Tiềm – bậc ẩn sĩ treo ấn từ quan dứt khoát – vì thấy mình chưa thanh thản như người xưa. Cái “thẹn” ấy là biểu hiện của một nhân cách lớn, biết tự soi xét trước thời cuộc. Giọng thơ Bà Huyện Thanh Quan trang trọng, đài các, nhiều từ Hán Việt; giọng Nguyễn Khuyến thanh đạm, gần gũi.

Hai bài thơ cùng cho thấy sức sống của thể thơ Đường luật khi được Việt hoá bằng chữ Nôm, đồng thời cho thấy: cùng một phong cách cổ điển, mỗi thi nhân vẫn có cách “nói” nỗi lòng của riêng mình.

Bài mẫu 2 (khác phong cách): Thu điếu và Tiếng thu

Mùa thu là đề tài quen thuộc của thi ca, nhưng mỗi thời đại cảm nhận mùa thu theo một cách. “Thu điếu” của Nguyễn Khuyến và “Tiếng thu” của Lưu Trọng Lư cùng viết về thu, song một bài mang phong cách cổ điển trung đại, một bài thấm đẫm tinh thần lãng mạn của Thơ mới.

Điểm gặp gỡ của hai bài là nỗi buồn man mác mà mùa thu khơi dậy, và cả hai đều tạo được không khí tĩnh lặng, sâu lắng. Tuy vậy, cách cảm nhận mùa thu khác hẳn nhau. Nguyễn Khuyến “nhìn” mùa thu: ao thu lạnh, nước trong veo, chiếc thuyền câu bé tẻo teo, sóng biếc gợn tí, lá vàng khẽ đưa vèo. Không gian được mở dần từ ao lên trời rồi thu về ngõ trúc quanh co, bức tranh rất cụ thể, đậm chất làng quê. Lưu Trọng Lư lại “nghe” mùa thu. Bài thơ dựng trên ba câu hỏi tu từ liên tiếp, đưa người đọc lắng nghe tiếng thổn thức dưới trăng mờ, nỗi rạo rực của người cô phụ nhớ chinh phu, tiếng lá thu xào xạc. Hình ảnh đẹp nhất khép lại bài thơ là “Con nai vàng ngơ ngác / Đạp trên lá vàng khô?” – vừa thực vừa mơ, gợi cái ngơ ngác của chính tâm hồn thi sĩ trước thời gian.

Cái tôi trữ tình cũng khác. Ở “Thu điếu”, nhà thơ ẩn mình sau tư thế người câu cá “tựa gối, ôm cần” và để nỗi buồn thời thế lắng vào tiếng cá đớp động dưới chân bèo – rất kín đáo, đúng tinh thần “thi trung hữu hoạ” của thơ xưa. Ở “Tiếng thu”, cái tôi cá nhân bộc lộ trực tiếp những rung động mơ hồ, chập chờn. Về hình thức, Nguyễn Khuyến chọn thất ngôn bát cú với vần “eo” hẹp dần như nén cảm xúc; Lưu Trọng Lư dùng thể năm chữ tự do về số câu, nhịp ngắn, câu hỏi bỏ lửng, tạo nhạc tính mênh mang.

Sự khác biệt ấy bắt nguồn từ thời đại: thơ trung đại đề cao tính ước lệ, cái tôi hoà vào thiên nhiên; còn Thơ mới khẳng định cái tôi cá nhân, coi trọng cảm giác và âm nhạc. “Thu điếu” là đỉnh cao của thơ thu cổ điển, còn “Tiếng thu” là một thể nghiệm táo bạo, mở ra cách cảm mùa thu bằng thính giác. Đặt cạnh nhau, hai bài cho ta thấy hành trình đổi mới của thơ Việt Nam.

Bài mẫu 3 (khác phong cách trong cùng trào lưu): Tương tư và Đây thôn Vĩ Dạ

Thơ mới 1932 – 1945 là “một thời đại trong thi ca” với nhiều phong cách độc đáo. Nguyễn Bính và Hàn Mặc Tử cùng thuộc trào lưu ấy, cùng viết về tình yêu, nhưng “Tương tư” và “Đây thôn Vĩ Dạ” lại là hai thế giới nghệ thuật rất khác: một bên chân quê mộc mạc, một bên tinh tế, huyền ảo và đầy ám ảnh.

Thú vị là cả hai bài đều có hình ảnh hàng cau – biểu tượng quen thuộc của làng quê Việt. Hàn Mặc Tử mở đầu bằng câu hỏi vừa trách nhẹ vừa mời gọi “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?”, rồi hiện ra nắng mới lên trên hàng cau, khu vườn “mướt quá xanh như ngọc”. Nguyễn Bính khép bài thơ bằng cặp hình ảnh “giàn giầu” nhà em và “hàng cau” nhà anh, gợi ước mơ lứa đôi theo lối ca dao: trầu cau vốn là biểu tượng của hôn nhân.

Song tình yêu ở hai bài khác hẳn nhau. Nỗi tương tư của chàng trai Nguyễn Bính được nói bằng lối nhân hoá quen thuộc của ca dao “Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông”, được coi như một “bệnh” tự nhiên như gió mưa của trời. Đó là thứ tình cảm rõ ràng, chân chất, có lúc hờn dỗi rất dễ thương. Tình yêu trong “Đây thôn Vĩ Dạ” lại mong manh, xa vời. Cảnh “gió theo lối gió, mây đường mây” chia lìa ngay trong thiên nhiên; con thuyền “chở trăng” trên bến sông trăng là hình ảnh đẹp mà đầy lo âu; đến khổ cuối, bóng “khách đường xa” nhòe trong sương khói và câu hỏi “Ai biết tình ai có đậm đà?” bỏ ngỏ một nỗi hoài nghi day dứt.

Về nghệ thuật, Nguyễn Bính trung thành với thể lục bát, dùng nhiều địa danh, thành ngữ, cách nói của ca dao. Hàn Mặc Tử dùng thể bảy chữ, hình ảnh vừa thực vừa ảo, có yếu tố tượng trưng, siêu thực, câu hỏi tu từ đặt ở cả ba khổ. Sự khác biệt ấy xuất phát từ cá tính và hoàn cảnh: Nguyễn Bính là “thi sĩ chân quê”, muốn giữ hồn quê trước làn gió đô thị; Hàn Mặc Tử viết khi đang mang bệnh hiểm nghèo, nên khát khao giao cảm với đời luôn đi kèm mặc cảm chia lìa.

Hai bài thơ chứng minh sự phong phú của Thơ mới: cùng nói về tình yêu và làng quê, nhưng một người tìm về cội nguồn dân gian, một người mở rộng biên độ của cảm xúc và hình ảnh thơ.

Bài mẫu 4 (cùng đề tài, khác phong cách): Tống biệt và Tống biệt hành

Tiễn biệt là đề tài lâu đời của thi ca. Ở thế kỉ XX, “Tống biệt” của Tản Đà và “Tống biệt hành” của Thâm Tâm đều nói về một cuộc chia li, nhưng một bài mang màu sắc mộng mơ, tiên cảnh, một bài lại mang âm hưởng bi tráng của người ra đi vì chí lớn.

“Tống biệt” mượn tích Lưu Thần, Nguyễn Triệu lạc vào động Thiên Thai rồi từ biệt tiên nữ trở về trần thế. Cuộc chia tay diễn ra trong khung cảnh lá đào rơi, suối tiễn oanh đưa; nỗi buồn được nói nhẹ như một tiếng thở dài: “Ước cũ duyên thừa có thế thôi.” Hình ảnh con hạc bay vút lên trời và cửa động, đầu non vắng lặng gợi sự cách biệt vĩnh viễn giữa tiên và tục. Thể thơ của Tản Đà phá cách, câu dài ngắn đan xen, phảng phất nhạc điệu hát nói.

“Tống biệt hành” thì hướng tới hiện thực đời người. Ngay mở đầu, nhà thơ khẳng định “Đưa người, ta không đưa qua sông”, rồi hỏi “Sao có tiếng sóng ở trong lòng?”. Không có sông mà có sóng, không có hoàng hôn mà mắt người ở lại đầy hoàng hôn: cảnh vật chỉ là cái cớ, nỗi buồn nằm trong lòng người. Nhân vật “li khách” mang tâm thế dứt khoát của người quyết chí: chưa làm nên sự nghiệp thì không trở lại, sẵn sàng coi mình như chiếc lá bay, như hạt bụi trong mắt người thân. Thể hành cổ phong với câu bảy chữ, nhịp mạnh, điệp từ, câu cảm thán tạo nên giọng bi tráng hiếm thấy trong Thơ mới.

Có thể thấy, Tản Đà mượn đề tài tiễn biệt để giãi bày cái tôi mộng mơ, chán trần thế, là gạch nối giữa thơ cũ và thơ mới; còn Thâm Tâm thổi vào đề tài cũ một khí phách mới, gắn cuộc chia li với chí làm trai, với khát vọng hành động của thanh niên trước thời cuộc. Mỗi bài một vẻ đẹp, nhưng cả hai đều làm phong phú thêm truyền thống thơ tống biệt của dân tộc.

Lỗi thường gặp

  • Viết thành hai bài phân tích rời: nửa đầu phân tích bài A, nửa sau phân tích bài B, gần như không đối chiếu.
  • Chỉ liệt kê giống – khác: thiếu phần lí giải nguyên nhân và đánh giá giá trị.
  • Chọn cặp tác phẩm thiếu cơ sở: hai bài khác đề tài, khác cảm hứng thì rất khó so sánh thuyết phục.
  • Đề cao bài này, hạ thấp bài kia: “đánh giá” là nhận ra giá trị riêng của mỗi bài, không phải chấm điểm hơn – kém.

Học tiếp

  • Soạn bài Viết bài văn nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ – Chân trời sáng tạo
  • Nghị luận so sánh Qua Đèo Ngang và Thu vịnh
  • Nghị luận so sánh Đây mùa thu tới và Tràng giang
  • Nghị luận so sánh Tống biệt và Tống biệt hành
  • Soạn bài Tiếng thu (Lưu Trọng Lư)
  • Văn mẫu lớp 12 – Chân trời sáng tạo

Câu hỏi thường gặp

Nên chọn cặp bài thơ nào để viết nghị luận so sánh, đánh giá?

Nên chọn hai bài có chung đề tài hoặc chung phong cách để có cơ sở đối chiếu, ví dụ Thu điếu – Thu vịnh, Thu điếu – Tiếng thu, Tương tư – Đây thôn Vĩ Dạ, Tống biệt – Tống biệt hành.

So sánh song hành và so sánh lần lượt khác nhau thế nào?

So sánh song hành đối chiếu cả hai bài theo từng tiêu chí trong mỗi đoạn; so sánh lần lượt phân tích xong bài này mới sang bài kia rồi tổng hợp. Cách song hành thường rõ và thuyết phục hơn.

Phần đánh giá trong bài văn so sánh cần viết gì?

Cần chỉ ra giá trị nội dung, nghệ thuật và đóng góp riêng của mỗi bài với thơ ca dân tộc, đồng thời lí giải vì sao có điểm khác biệt (thời đại, trào lưu, cá tính sáng tạo).