Các nhóm đất chủ yếu của đai cận nhiệt đới gió mùa trên núi ở nước ta là gì?

Trả lời nhanh

Các nhóm đất chủ yếu của đai cận nhiệt đới gió mùa trên núi ở nước ta là đất feralit có mùn (phần thấp của đai) và đất mùn (từ khoảng 1600–1700 m trở lên). Khí hậu ở đây mát, nhiệt độ thấp nên xác sinh vật phân giải chậm, mùn tích tụ nhiều, đất vì thế giàu mùn hơn hẳn đất feralit ở đai chân núi.

Đặt câu hỏi vào đúng chỗ

Đai cận nhiệt đới gió mùa trên núi là tầng nằm giữa đai nhiệt đới chân núi và đai ôn đới trên đỉnh. Ở miền Bắc, đai này bắt đầu từ khoảng 600–700 m, ở miền Nam từ khoảng 900–1000 m, và kéo lên đến khoảng 2600 m. Đặc điểm nổi bật của khí hậu là mát mẻ, không có tháng nào nhiệt độ trung bình vượt 25°C.

Vì đề hỏi về “nhóm đất”, em cần tập trung vào cách đất biến đổi theo độ cao trong đai này chứ không cần nhắc đến rừng hay động vật.

Hai nhóm đất và ranh giới giữa chúng

Phần của đai Độ cao tham khảo Loại đất Đặc điểm
Phần thấp Từ ranh giới đai đến khoảng 1600–1700 m Đất feralit có mùn Vẫn còn tính chất feralit (màu đỏ vàng, chua) nhưng tầng mặt có nhiều mùn hơn
Phần cao Trên khoảng 1600–1700 m Đất mùn Màu sẫm, giàu chất hữu cơ, tầng đất thường mỏng, hay gặp rêu và địa y bám cây

Giải thích vì sao có hai nhóm đất này

Quá trình feralit đặc trưng của vùng nhiệt đới ẩm cần nhiệt độ cao. Khi lên núi, nhiệt độ giảm nên quá trình này yếu dần, đất giữ lại tính chất feralit nhưng không điển hình, vì vậy gọi là “feralit có mùn”.

Càng lên cao càng lạnh và ẩm hơn, vi sinh vật hoạt động kém, lớp lá rụng và xác thực vật phân giải chậm. Chất hữu cơ tích lũy thành mùn nên ở trên cùng xuất hiện đất mùn. Hiểu được mối quan hệ nhiệt độ – phân giải – mùn thì em không cần học vẹt tên đất.

So sánh với đai nhiệt đới gió mùa chân núi

  • Đai chân núi: phổ biến đất phù sa ở đồng bằng và đất feralit trên đồi núi thấp, đất chua, màu đỏ vàng, ít mùn.
  • Đai cận nhiệt trên núi: đất feralit có mùn rồi đất mùn, hàm lượng hữu cơ tăng dần theo độ cao.
  • Đai ôn đới trên núi: đất mùn thô, ở độ cao trên 2600 m.

Mẹo nhớ

Hãy nhớ ba bậc thang đất theo độ cao: “feralit – feralit có mùn – mùn”. Lên cao thì chữ “mùn” xuất hiện và đậm dần. Với đai cận nhiệt, chỉ cần nhớ hai cụm “có mùn” và “mùn”.

Cách loại trừ phương án sai

  1. Loại những phương án có đất phù sa, vì phù sa là sản phẩm bồi tụ của sông ở đồng bằng thấp.
  2. Loại những phương án chỉ có đất feralit thuần, vì thiếu yếu tố “mùn” đặc trưng của vùng núi mát.
  3. Phương án nào có cả feralit có mùn và đất mùn là phương án phù hợp.

Lỗi sai thường gặp

  • Nhầm với đai ôn đới và chọn “đất mùn thô”. Chữ “thô” thuộc đai trên 2600 m.
  • Nhầm ranh giới 1600–1700 m với ranh giới giữa hai đai khí hậu. Mốc này chỉ chia hai nhóm đất trong cùng một đai.
  • Cho rằng đất ở núi cao luôn dày. Thực tế đất mùn trên núi cao thường mỏng vì địa hình dốc.

Luyện tập

  1. Câu 1. Vì sao đất mùn xuất hiện trên núi cao mà ít gặp ở đồng bằng? Đáp án: vì ở núi cao nhiệt độ thấp, chất hữu cơ phân giải chậm nên tích tụ thành mùn; đồng bằng nóng, chất hữu cơ phân giải nhanh.
  2. Câu 2. Đất feralit có mùn khác feralit điển hình ở điểm nào? Đáp án: có hàm lượng mùn cao hơn ở tầng mặt, do khí hậu mát hơn.
  3. Câu 3. Ở độ cao 2000 m miền Bắc, em dự đoán gặp loại đất nào? Đáp án: đất mùn, vì độ cao này vượt mốc khoảng 1600–1700 m.

Câu hỏi thường gặp

Đai cận nhiệt đới gió mùa trên núi có những loại đất nào?

Chủ yếu là đất feralit có mùn ở phần thấp và đất mùn ở phần cao, từ khoảng 1600–1700 m trở lên.

Vì sao đất ở đai này nhiều mùn?

Do khí hậu mát, nhiệt độ thấp làm vi sinh vật hoạt động yếu, chất hữu cơ phân giải chậm nên tích tụ thành mùn.

Đai cận nhiệt đới gió mùa trên núi nằm ở độ cao nào?

Từ khoảng 600–700 m ở miền Bắc hoặc 900–1000 m ở miền Nam lên đến khoảng 2600 m.

Đất mùn thô thuộc đai nào?

Đất mùn thô thuộc đai ôn đới gió mùa trên núi, ở độ cao trên 2600 m.