Trả lời nhanh
Giễu người thi đỗ là bài thơ thất ngôn tứ tuyệt của Trần Tế Xương, viết nhân khoa thi Hương năm Đinh Dậu (1897) ở Nam Định. Bài thơ dùng tiếng cười trào phúng, nhất là phép đối ở hai câu cuối, để chế giễu những sĩ tử thi đỗ phải khúm núm trước vợ chồng viên công sứ Pháp. Qua đó, tác giả bày tỏ nỗi xót xa trước cảnh nhục của nền khoa cử và của đất nước dưới ách thực dân.
1. Tìm hiểu nhanh trước khi viết
- Tác giả: Trần Tế Xương (1870 – 1907), thường gọi là Tú Xương, quê ở Nam Định. Ông đi thi nhiều lần nhưng chỉ đỗ tú tài, thơ ông có hai mảng lớn là trào phúng và trữ tình.
- Thể thơ: thất ngôn tứ tuyệt Đường luật (4 câu, mỗi câu 7 chữ).
- Hoàn cảnh ra đời: khoa thi Hương năm Đinh Dậu (1897) ở trường thi Nam Định. Trong buổi lễ xướng danh – tạ ơn nhà vua, vợ chồng viên công sứ Pháp ở Nam Định đến dự và ngồi ở chỗ trang trọng. Các tân khoa phải cúi lạy, vô hình trung như lạy cả “ông Tây, bà đầm”.
- Đối tượng của tiếng cười: trước hết là các ông cử mới đỗ (tiêu biểu cho giới khoa bảng đánh mất phẩm giá), sau đó là bọn thực dân và cả chế độ thực dân nửa phong kiến.
- Giá trị chính: phản ánh hiện thực xã hội thuộc địa, thể hiện thái độ mỉa mai xen lẫn đau xót của một nhà nho yêu nước.
2. Dàn ý phân tích chi tiết
Mở bài
- Giới thiệu Tú Xương – nhà thơ trào phúng nổi tiếng cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX.
- Giới thiệu bài thơ Giễu người thi đỗ và nêu nhận định chung: tiếng cười vừa sắc sảo vừa chua chát.
Thân bài
- Hoàn cảnh sáng tác: khoa thi Hương 1897, buổi lễ có vợ chồng công sứ Pháp dự; sĩ tử đỗ đạt cúi đầu trước kẻ xâm lược.
- Hai câu đầu: giọng điệu suồng sã, thô mộc khi nói về người thi đỗ; dùng câu hỏi, câu cảm thán để mỉa mai. Niềm “vinh quang” của người đỗ bị đặt dấu hỏi ngay từ đầu.
- Hai câu cuối: phép đối “trên ghế – dưới sân”, “bà đầm – ông cử”, “ngoi đít vịt – ngỏng đầu rồng” tạo bức tranh biếm hoạ: kẻ cai trị ngồi chễm chệ, kẻ có học thì khúm núm.
- Nghệ thuật: ngôn ngữ bình dân, từ ngữ gây cười, phép đối, hình ảnh phóng đại; ngắn gọn mà hàm súc.
- Tâm trạng tác giả: cười cợt bên ngoài nhưng bên trong là nỗi nhục, nỗi buồn của người nhìn thấy khoa cử và đất nước sa sút.
Kết bài
- Khẳng định giá trị hiện thực và phê phán của bài thơ.
- Nêu cảm nhận: tiếng cười Tú Xương làm ta cười, nhưng sau đó là nghĩ ngợi về nhân cách và lòng tự trọng dân tộc.
3. Cách giải mã hai câu thơ cuối
Hai câu kết là “đất diễn” chính của bài, nên khi viết em cần phân tích kĩ:
Trên ghế bà đầm ngoi đít vịt,
Dưới sân ông cử ngỏng đầu rồng.
| Cặp đối | Ý nghĩa cần nêu |
|---|---|
| Trên ghế / Dưới sân | Vị trí cao – thấp: kẻ thống trị ngồi ghế, người đỗ đạt đứng dưới sân. Địa vị bị đảo lộn. |
| Bà đầm / Ông cử | Đại diện chính quyền bảo hộ đặt cạnh đại diện cho danh vọng khoa bảng; một bên xa lạ, một bên đáng lẽ được tôn trọng. |
| Ngoi đít vịt | Từ “ngoi” gợi dáng nhô lên khó coi, “đít vịt” gợi dáng điệu cồng kềnh, kệch cỡm của người phụ nữ Tây; cách nói thô mộc để hạ thấp đối tượng. |
| Ngỏng đầu rồng | “Đầu rồng” là hình ảnh sang trọng của sự đỗ đạt, nhưng “ngỏng” lại là dáng ngẩng lên, cúi xuống một cách lố bịch. Sự tương phản giữa hình ảnh cao quý và động tác nhỏ nhoi tạo tiếng cười chua chát. |
Mẹo nhớ: câu 3 giễu bà đầm, câu 4 giễu ông cử, nhưng cả hai đều dồn về một mục đích là vạch trần cảnh đảo lộn trật tự trong xã hội thuộc địa.
4. Bốn bài văn mẫu theo bốn góc nhìn
Bài mẫu 1: Phân tích theo bố cục hai phần
Trần Tế Xương là một trong những cây bút trào phúng xuất sắc của văn học Việt Nam thời kì xã hội thực dân nửa phong kiến. Thơ ông vừa cười cợt vừa đau đớn, và Giễu người thi đỗ là một bài tiêu biểu như thế.
Bài thơ ra đời từ một sự việc có thật: khoa thi Hương năm Đinh Dậu (1897) ở Nam Định, khi các tân khoa làm lễ tạ ơn vua thì vợ chồng viên công sứ Pháp cũng đến dự và ngồi chễm chệ. Chính chi tiết này đã trở thành chất liệu để nhà thơ viết nên tiếng cười phê phán.
Hai câu đầu, giọng thơ suồng sã, không hề có sự kính trọng thường thấy khi nói về người đỗ đạt. Cách gọi thô mộc cùng câu hỏi, câu cảm thán như một lời nhại: đỗ đạt như thế thì có gì đáng tự hào? Ngay từ đầu, danh vọng khoa cử đã bị đem ra “giễu”.
Đến hai câu cuối, bức tranh được vẽ rõ hơn. “Trên ghế bà đầm ngoi đít vịt” là hình ảnh kẻ cai trị ngồi cao, dáng vẻ kệch cỡm. “Dưới sân ông cử ngỏng đầu rồng” là hình ảnh người có học đứng dưới thấp, ngẩng lên trông chờ. Hai vế đối nhau chan chát, khiến người đọc vừa buồn cười vừa chạnh lòng.
Về nghệ thuật, bài thơ dùng ngôn từ bình dân, phép đối và biện pháp phóng đại để tạo tiếng cười. Chỉ bốn câu mà phơi bày cả một thực trạng xã hội. Bài thơ để lại bài học về lòng tự trọng: danh vọng chẳng có ý nghĩa nếu đánh mất phẩm giá dân tộc.
Bài mẫu 2: Góc nhìn bối cảnh lịch sử – xã hội
Muốn hiểu vì sao Tú Xương “giễu” người thi đỗ, ta phải đặt bài thơ vào bối cảnh nước ta cuối thế kỉ XIX. Khi ấy thực dân Pháp đã thiết lập ách cai trị, nền Nho học suy tàn, các kì thi Hương vẫn còn nhưng đã mất đi vẻ trang nghiêm vốn có.
Trong khoa thi năm Đinh Dậu, nghi lễ tạ ơn vua của các tân khoa lại có sự hiện diện của vợ chồng công sứ Nam Định. Một buổi lễ vốn dành để tôn vinh đạo thầy trò, vua tôi bỗng biến thành nơi người có học phải cúi đầu trước kẻ xâm lược. Đó là điều mà một nhà nho như Tú Xương không thể làm ngơ.
Nhà thơ không viết một bài nghị luận gay gắt, mà chọn tiếng cười. Cái cười ấy bắt đầu từ hình ảnh rất cụ thể: bà đầm ngồi trên ghế, ông cử đứng dưới sân. Chỉ cần đặt hai hình ảnh cạnh nhau, ý nghĩa phê phán đã tự bộc lộ.
Vì thế, bài thơ không chỉ là chuyện riêng của một khoa thi, mà là tấm gương nhỏ phản chiếu bi kịch của cả một thời đại: văn hoá truyền thống bị chà đạp, kẻ sĩ mất vị thế, đất nước mất chủ quyền. Đó là giá trị hiện thực sâu sắc của bài thơ.
Bài mẫu 3: Góc nhìn nghệ thuật trào phúng
Điều làm nên sức sống của Giễu người thi đỗ là nghệ thuật trào phúng bậc thầy trong khuôn khổ rất ngắn của một bài tứ tuyệt.
Trước hết là ngôn ngữ. Tú Xương không dùng từ ngữ trang nhã mà chọn những từ thô mộc, gần với khẩu ngữ như “ngoi”, “đít vịt”, “ngỏng”. Chính sự suồng sã ấy hạ bệ những thứ vốn được tôn kính, buộc người đọc phải nhìn thẳng vào sự lố bịch.
Tiếp đến là phép đối. Hai câu cuối đối nhau từng cặp: trên ghế – dưới sân, bà đầm – ông cử, ngoi đít vịt – ngỏng đầu rồng. Đối ở đây không chỉ đẹp về hình thức mà còn làm nổi bật sự đảo lộn: kẻ ngoại bang ngự trên cao, người trí thức ở dưới thấp.
Cuối cùng là hình ảnh tương phản. “Đầu rồng” gợi sự vinh hiển của đỗ đạt, nhưng khi đi cùng “ngỏng” thì thành dáng điệu đáng thương, đáng cười. Tiếng cười vì thế mang hai tầng: cười kẻ ra vẻ, và cười trong nước mắt cho cả một nền khoa cử.
Với những thủ pháp ấy, bài thơ ngắn mà đầy sức nặng, xứng đáng là mẫu mực của thơ trào phúng trung đại.
Bài mẫu 4: Đoạn văn về tâm trạng của tác giả
Đọc Giễu người thi đỗ, ta dễ chỉ thấy tiếng cười, nhưng đằng sau tiếng cười ấy là một nỗi buồn rất lớn. Tú Xương là người nhiều lần đi thi mà không đỗ, nhưng ông không giễu vì ghen ghét hay tiếc nuối. Ông giễu vì thấy tủi hổ khi những người được xem là tinh hoa của đất nước lại cúi đầu trước kẻ đi xâm lược.
Hai câu thơ cuối vẽ nên một bức tranh vừa hài vừa chua xót: bà đầm ngồi trên ghế, ông cử ngẩng đầu dưới sân. Nhà thơ đứng ngoài quan sát, miệng cười nhạt nhưng lòng nặng trĩu. Đó là tâm trạng của một trí thức yêu nước bất lực nhìn thấy danh dự đất nước bị xúc phạm, và chỉ có thể dùng ngòi bút để lên tiếng.
5. Lỗi thường gặp khi phân tích bài thơ
- Chỉ giễu “người đỗ”: quên nói đến bọn thực dân và chế độ thực dân nửa phong kiến, khiến bài hẹp ý.
- Hiểu sai nhân vật: “bà đầm” là vợ viên công sứ Pháp, không phải người trong triều đình Việt Nam.
- Nhầm thể thơ: đây là thất ngôn tứ tuyệt, không phải thất ngôn bát cú.
- Chỉ kể lại nội dung: cần chỉ ra từ ngữ, biện pháp nghệ thuật rồi nêu tác dụng.
- Bỏ qua tâm trạng tác giả: tiếng cười trào phúng của Tú Xương luôn đi kèm nỗi xót xa.
6. Cách triển khai một đoạn phân tích hay
- Câu mở đoạn nêu ý chính (ví dụ: “Hai câu cuối là bức tranh biếm hoạ sắc nét”).
- Trích dẫn thơ ngắn gọn, có phân tích từ ngữ chủ chốt.
- Nêu biện pháp nghệ thuật (đối, tương phản, từ ngữ thô mộc).
- Rút ra tác dụng: tiếng cười, thái độ, tâm trạng tác giả.
- Liên hệ nhẹ với hiện thực xã hội hoặc giá trị nhân cách.
7. Bài luyện tập có gợi ý
- Đề 1: Viết đoạn văn 6–8 câu phân tích phép đối ở hai câu cuối.
Gợi ý: nêu ba cặp đối, chỉ ra sự đảo lộn vị trí, kết luận về thái độ tác giả. - Đề 2: Theo em, tiếng cười trong bài thơ hướng vào ai? Vì sao đó không phải chỉ là tiếng cười vui?
Gợi ý: hướng vào ông cử (sĩ tử đỗ đạt), vào kẻ thực dân và chế độ đương thời; không vui vì kèm nỗi nhục, nỗi xót xa. - Đề 3: Từ bài thơ, em rút ra bài học gì về lòng tự trọng trong học tập và cuộc sống?
Gợi ý: học để có tri thức và nhân cách, không để danh vọng làm mất phẩm giá; kết hợp một ví dụ gần gũi.
8. Tài liệu Ngữ văn 8 liên quan
- Phân tích bài thơ Ông phỗng đá
- Phân tích bài thơ Hỏi thăm quan tuần mất cướp
- Soạn văn 8 Kết nối tri thức
- Văn mẫu lớp 8 Kết nối tri thức
- Tác giả tác phẩm Ngữ văn 8 Kết nối tri thức
Lưu ý: các bài mẫu chỉ để tham khảo cách triển khai ý. Khi làm bài, em hãy đối chiếu văn bản thơ trong sách giáo khoa và viết theo cảm nhận của chính mình.
Câu hỏi thường gặp
Giễu người thi đỗ được viết theo thể thơ nào?
Bài thơ được viết theo thể thất ngôn tứ tuyệt Đường luật, gồm bốn câu, mỗi câu bảy chữ, trong đó hai câu cuối dùng phép đối.
Bài thơ Giễu người thi đỗ ra đời trong hoàn cảnh nào?
Bài thơ gắn với khoa thi Hương năm Đinh Dậu (1897) ở Nam Định. Trong lễ tạ ơn vua của các tân khoa có vợ chồng viên công sứ Pháp dự và ngồi chễm chệ, khiến sĩ tử đỗ đạt phải cúi lạy trước cả kẻ xâm lược.
Tiếng cười trào phúng trong bài thơ hướng vào đối tượng nào?
Tiếng cười hướng vào những ông cử mới đỗ vì đánh mất phẩm giá, đồng thời mỉa mai bọn thực dân (bà đầm) và chế độ thực dân nửa phong kiến.
Hai câu thơ cuối có nghệ thuật gì đặc sắc?
Hai câu cuối dùng phép đối chặt chẽ (trên ghế – dưới sân, bà đầm – ông cử, ngoi đít vịt – ngỏng đầu rồng), kết hợp từ ngữ thô mộc và hình ảnh tương phản để tạo bức tranh biếm hoạ về sự đảo lộn trật tự xã hội.