Trả lời nhanh
Một đoạn văn tả con vật nuôi ngắn gọn (6–10 câu) cần có ba phần: câu giới thiệu con vật, vài câu tả ngoại hình (kích thước, bộ lông, mắt, tai, đuôi) và hoạt động nổi bật, cuối cùng là câu nêu tình cảm của em. Chọn 2–3 nét đặc sắc nhất rồi tả kĩ, đừng liệt kê tràn lan.
Đề bài và hướng làm
Đề bài: Viết đoạn văn tả một con vật nuôi trong nhà mà em yêu thích.
Đây là dạng văn miêu tả. Muốn tả hay, em cần quan sát thật rồi mới viết. Hãy nhớ lại con vật nhà em: lúc nó ăn, lúc nó chạy, lúc nó đón em đi học về. Chính những chi tiết rất nhỏ ấy làm đoạn văn khác với bài của các bạn.
Dàn ý ngắn gọn cho đoạn văn
- Mở đoạn: giới thiệu con vật (tên, loài, nuôi từ bao giờ, ai là người đem về).
- Thân đoạn:
- Ngoại hình: vóc dáng, màu lông (hoặc vảy, mỏ…), đầu, mắt, tai, mũi, chân, đuôi.
- Hoạt động, thói quen: cách ăn, cách chạy nhảy, cách phản ứng với người.
- Tính nết hoặc ích lợi: hiền lành, tinh nghịch, trung thành, bắt chuột, báo thức…
- Kết đoạn: tình cảm của em và lời hứa chăm sóc con vật.
8 đoạn văn mẫu tả con vật nuôi trong nhà
Mẫu 1: Chú chó Mực
Nhà em nuôi một chú chó tên là Mực, năm nay đã được hai tuổi. Mực cao đến gần đầu gối em, bộ lông đen tuyền, chỉ có chiếc chóp đuôi trắng như bị nhúng vào lọ sơn. Đôi tai dựng đứng, hễ có tiếng động lạ ngoài ngõ là chúng khẽ xoay về phía ấy. Mắt Mực tròn, đen láy, nhìn ai cũng như chờ được vuốt ve. Chiều nào em đi học về, chú cũng lao ra tận cổng, quẫy đuôi tít và rên ư ử mừng em. Đêm đến, Mực nằm canh trước hiên, chỉ cần người lạ đến gần là sủa vang cả xóm. Em coi Mực như một người bạn trung thành của gia đình.
Mẫu 2: Nàng mèo Tam Thể
Mẹ em nhặt được Tam Thể khi nó còn bé tí, giờ nó đã thành một nàng mèo duyên dáng. Bộ lông của nó có ba màu trắng, vàng, đen xen nhau như tấm áo ghép từ nhiều mảnh vải. Đôi mắt xanh biếc, ban ngày chỉ còn một đường kẻ mảnh, ban đêm lại tròn và sáng như hai viên bi thủy tinh. Chiếc mũi hồng hồng, quanh mép có những sợi ria dài và cứng. Khi đi, Tam Thể đặt chân nhẹ đến mức em không nghe thấy tiếng bước. Nó rất thích rúc vào lòng em mỗi tối, kêu “gừ gừ” như chiếc máy nhỏ. Có Tam Thể, căn nhà của em như ấm áp hơn hẳn.
Mẫu 3: Chú gà trống
Trong đàn gà của bà, em thích nhất chú gà trống choai đã biết gáy. Chú to bằng hai bàn tay em chụm lại, bộ lông đỏ nâu óng ánh, riêng đuôi có mấy chiếc lông xanh biếc cong vút như dải lụa. Chiếc mào đỏ chót đung đưa mỗi lần chú bước. Đôi chân vàng sậm, cựa mới nhú nhọn nhọn. Sáng sớm, chú nhảy lên đống rơm, vươn cổ gáy “ò ó o”, tiếng còn hơi khàn nhưng rất dõng dạc. Chú còn biết gọi cả đàn khi tìm thấy hạt thóc. Nhờ tiếng gáy ấy mà em chẳng cần đồng hồ báo thức.
Mẫu 4: Chú thỏ trắng
Bố tặng em một chú thỏ trắng nhân dịp em đạt học sinh giỏi. Thỏ có bộ lông mịn như bông, trắng muốt, em đặt tay vào là thấy ấm. Hai tai dài dựng lên, hơi hồng ở bên trong, chỉ cần có tiếng lạch cạch là tai cử động liên tục. Đôi mắt đỏ như hai hạt đậu, lấp lánh dưới ánh nắng. Mũi thỏ lúc nào cũng khụt khịt, nhúc nhích rất buồn cười. Gặp rau cải hay cà rốt, chú ngồi thẳng, hai chân trước ôm lấy rồi nhai lách tách. Ngày nào em cũng dành mười phút để cho thỏ ăn và vuốt ve nó.
Mẫu 5: Chú vẹt biết nói
Ông ngoại nuôi một chú vẹt xanh trong chiếc lồng treo trước hiên. Bộ lông chú xanh như lá chuối non, riêng cổ có một vòng đỏ như chiếc vòng cổ. Mỏ cong, màu đỏ cam, trông vừa cứng vừa khéo, chú dùng nó để leo trèo và bóc hạt. Đôi mắt nhỏ tròn, nhìn ai cũng nghiêng nghiêng cái đầu dò xét. Điều em thích nhất là chú biết nói: thấy em đến, chú cất tiếng “Chào cháu” làm cả nhà bật cười. Mỗi lần về quê, em lại mang cho chú vài hạt dẻ và nhờ vậy chú mau quen em hơn.
Mẫu 6: Chú cá vàng
Trên bàn học của em có một bể kính nhỏ, trong đó có chú cá vàng tên Lộc. Thân chú tròn, ánh màu cam đỏ, từng chiếc vảy nhỏ sáng lên khi gặp ánh đèn. Chiếc đuôi xòe rộng, mỏng và mềm, mỗi lần quẫy đuôi trông như một tà váy đang bay. Đôi mắt lồi to ở hai bên đầu, lúc nào cũng mở tròn. Khi em rắc thức ăn, Lộc bơi vọt lên mặt nước, há miệng đớp từng viên một. Nhìn Lộc bơi chậm rãi, em cảm thấy những giờ học bài bớt căng thẳng.
Mẫu 7: Chú hamster tròn xoe
Em nuôi một chú hamster nhỏ xíu, cuộn lại còn không đầy một nắm tay. Bộ lông của chú màu kem, riêng lưng có một vệt nâu như chiếc yếm. Hai má phồng lên, tròn như hai quả bóng nhỏ khi chú nhét đầy hạt hướng dương vào. Mắt chú đen nhánh, bé như hai hạt vừng. Ban đêm, chú chạy trong bánh xe đồ chơi cả tiếng đồng hồ, tiếng lọc cọc vang cả phòng. Ban ngày chú rúc vào đống mùn cưa ngủ say. Em rất thích dùng tay đỡ chú lên và nhìn bộ ria rung rung của nó.
Mẫu 8: Đàn vịt con của em
Mùa xuân năm ngoái, mẹ mua về đàn vịt con mới nở chừng chục con. Chúng nhỏ như quả trứng gà, phủ lớp lông tơ vàng nhạt mềm như nhung. Mỏ dẹt màu cam, đôi chân có màng nhỏ xíu, đi lạch bạch trông thật ngộ nghĩnh. Cả đàn kêu “chíp chíp” và luôn bám theo chân mẹ em ra sân. Khi thấy chậu nước, chúng ùa vào, vẩy cánh tung tóe làm em ướt cả áo. Em thích ngồi nhìn đàn vịt nhỏ, mong chúng mau lớn để cùng em ra đồng.
Vì sao các đoạn văn trên đọc dễ chịu?
- Có chi tiết riêng: “chóp đuôi trắng như bị nhúng sơn”, “vòng đỏ ở cổ vẹt” là những nét ít bạn khác nghĩ tới.
- Có so sánh, nhân hóa đơn giản: lông như bông, mào như bông hoa, thỏ “ôm” cà rốt.
- Có hoạt động: con vật được tả khi đang làm gì đó, không chỉ đứng yên cho em tả.
- Kết thúc bằng cảm xúc: một câu chân thành là đủ.
Kho từ ngữ gợi tả cho từng bộ phận
| Bộ phận | Từ ngữ, hình ảnh gợi ý |
|---|---|
| Bộ lông | mượt mà, óng ả, mềm như bông, xù xì, loang lổ, vằn vện |
| Đôi mắt | tròn xoe, long lanh, đen láy, tinh anh, lim dim |
| Đôi tai | dựng đứng, cụp xuống, vểnh lên nghe ngóng |
| Chân, bước đi | thoăn thoắt, nhẹ nhàng, lạch bạch, nhảy chồm chồm |
| Đuôi | ngoe nguẩy, quẫy tít, cong vút, xù như chổi |
| Tiếng kêu | sủa vang, gừ gừ, ò ó o, chíp chíp |
Lỗi thường gặp khi viết đoạn văn tả vật nuôi
- Liệt kê khô khan: “Nó có hai mắt, hai tai, bốn chân…” thì ai cũng viết được. Hãy chọn nét đặc biệt và tả kĩ.
- Chỉ tả hình dáng: thiếu hoạt động nên con vật như bức tranh chết.
- Lạc sang kể chuyện: đề yêu cầu tả, đừng kể quá dài về một kỉ niệm (phần đó thuộc bài văn kể chuyện).
- Chép nguyên mẫu: giáo viên nhận ra ngay. Hãy đổi tên, đổi chi tiết theo con vật thật nhà em.
- Sai chính tả, lặp từ: nhiều câu bắt đầu bằng “Nó”, “Em” liên tục. Em có thể thay bằng tên con vật.
Mẹo viết nhanh trong 10 phút
- Chọn con vật em quan sát nhiều nhất.
- Ghi ra giấy nháp 3 từ khóa cho ngoại hình và 2 hoạt động đặc trưng.
- Viết câu mở rồi nối lần lượt, mỗi câu một ý.
- Thêm một phép so sánh hoặc nhân hóa vào câu thú vị nhất.
- Đọc lại, gạch bỏ chi tiết thừa.
Bài luyện tập có gợi ý
Bài 1. Sửa câu sau cho sinh động hơn: “Con mèo nhà em có bộ lông màu xám và đôi mắt to.”
Gợi ý: “Bộ lông xám tro của chú mèo mượt như nhung, đôi mắt tròn xoe lúc nào cũng long lanh như hai hạt nhãn.”
Bài 2. Hãy viết câu kết cho đoạn văn tả chú chó của em.
Gợi ý: “Dù hôm nay trời mưa gió, chỉ cần thấy chú chạy ra mừng là em thấy lòng ấm áp, em hứa sẽ chăm sóc chú thật tốt.”
Bài 3. Tự viết đoạn 6–8 câu tả con vật em yêu, trong đó có ít nhất một phép so sánh và một chi tiết hoạt động.
Xem thêm các đề liên quan
- Đoạn văn miêu tả con vật em yêu
- Kể lại một kỉ niệm với con vật nuôi mà em yêu
- Đoạn văn nêu lợi ích của việc nuôi động vật trong nhà
- Soạn bài Tại sao nên có vật nuôi trong nhà (Cánh diều)
Câu hỏi thường gặp
Đoạn văn tả con vật nuôi ngắn gọn nên dài bao nhiêu câu?
Khoảng 6–10 câu là vừa đủ. Em cần có câu giới thiệu, vài câu tả ngoại hình, một hai câu tả hoạt động và câu nêu cảm xúc.
Nên chọn con vật nào để tả dễ đạt điểm cao?
Hãy chọn con vật em quen thuộc và quan sát được thường xuyên như chó, mèo, gà. Bài viết từ chi tiết thật bao giờ cũng sinh động hơn.
Có được chép đoạn văn mẫu vào bài làm không?
Không nên. Em chỉ dùng mẫu để học cách quan sát, cách so sánh và cách sắp xếp ý, rồi viết lại bằng chi tiết của con vật nhà em.
Làm sao để đoạn văn tả vật nuôi không bị khô khan?
Thêm hoạt động, một hai phép so sánh hay nhân hóa, và dùng từ gợi tả như long lanh, thoăn thoắt, ngoe nguẩy. Đừng chỉ liệt kê các bộ phận.