Soạn bài Lai Tân (Hồ Chí Minh) – Ngữ văn 8 Kết nối tri thức

Trả lời nhanh

Lai Tân là bài thơ thất ngôn tứ tuyệt chữ Hán trong tập “Ngục trung nhật ký” của Hồ Chí Minh. Ba câu đầu kể việc ban trưởng đánh bạc, cảnh trưởng ăn hối lộ, huyện trưởng chong đèn làm “công việc”; câu cuối nói “vẫn thái bình”. Cái kết nhẹ nhàng ấy mỉa mai sâu cay một bộ máy nhà tù thối nát.

Tìm hiểu nhanh về bài thơ

  • Tác giả: Hồ Chí Minh, nhà cách mạng, nhà thơ lớn của dân tộc.
  • Xuất xứ: bài thơ nằm trong “Ngục trung nhật ký”, viết bằng chữ Hán trong thời gian Người bị giam ở các nhà lao của chính quyền Tưởng Giới Thạch (Quảng Tây, Trung Quốc) vào khoảng 1942–1943.
  • Thể thơ: thất ngôn tứ tuyệt Đường luật. Bản dịch thơ thường dùng trong sách là bản dịch của Nam Trân.
  • Nhan đề: “Lai Tân” là tên một huyện ở Quảng Tây, nơi Bác bị giải qua. Đây cũng là nơi bài thơ lấy làm “tấm gương” soi chính quyền thời ấy.

Chi tiết hơn về tác giả, giá trị nội dung có thể xem thêm ở bài tổng hợp dưới đây: Bài thơ Lai Tân – nội dung, tác giả, tác phẩm; phần chia ý xem tại Bố cục bài Lai Tân.

Trước khi đọc

Câu 1 (trang 85). Hãy kể tên một số nơi Bác đã đặt chân tới trong hành trình tìm đường cứu nước.

Từ năm 1911, Bác ra đi từ bến Nhà Rồng, qua nhiều nước thuộc các châu Á, Âu, Phi, Mỹ. Em có thể kể: Pháp, Anh, Mỹ, Liên Xô, Trung Quốc, Thái Lan… Nhiều nơi Người dừng chân khá lâu để tìm hiểu đời sống, tình hình chính trị rồi mới rút ra con đường cho dân tộc.

Câu 2 (trang 85). Nêu tên một số bài thơ của Hồ Chí Minh em biết.

Em có thể kể: “Cảnh khuya”, “Rằm tháng giêng”, “Cảnh rừng Việt Bắc”, “Cảnh rừng Pác Bó”, “Tảo giải”, “Chiều tối”… (hai bài cuối nằm trong “Ngục trung nhật ký”). Nên chọn những bài mình thuộc để ghi cho chắc.

Trong khi đọc

Yêu cầu theo dõi Gợi ý
Vị trí xã hội của các nhân vật Ban trưởng, cảnh trưởng, huyện trưởng đều là viên chức trong bộ máy cai trị, từ quản tù đến người đứng đầu huyện.
Hành động của các nhân vật Ban trưởng chuyên đánh bạc; cảnh trưởng nhân việc giải phạm nhân mà kiếm tiền; huyện trưởng chong đèn “làm công việc”.

Mẹo: chú ý ba nhân vật đi từ thấp lên cao (ban trưởng → cảnh trưởng → huyện trưởng). Thứ tự ấy cho thấy sự thối nát lan từ dưới lên trên.

Sau khi đọc: trả lời câu hỏi SGK

Câu 1 (trang 86). Bài thơ thuộc thể thơ nào? Dấu hiệu nhận biết?

  • Thể thất ngôn tứ tuyệt Đường luật (4 câu, mỗi câu 7 chữ trong nguyên tác chữ Hán).
  • Dấu hiệu: bài có bốn câu theo bố cục khai – thừa – chuyển – hợp; vần được gieo ở cuối câu 1, 2, 4 (nguyên tác hiệp vần “tiền – thiên”); câu thơ tuân theo luật bằng trắc.

Câu 2. Mục đích những việc thường làm của ban trưởng và cảnh trưởng? Căn cứ vào đâu?

Ban trưởng đánh bạc để ăn thua tiền bạc, vui chơi thay vì giữ kỉ cương nhà giam. Cảnh trưởng lợi dụng việc giải tù để vòi tiền, ăn hối lộ của phạm nhân. Căn cứ vào các chữ trong nguyên tác như “đổ” (đánh bạc), “giải phạm… tiền” (tiền từ việc giải phạm) và vào nghĩa của hai câu dịch “chuyên đánh bạc”, “kiếm ăn quanh”.

Câu 3. Tác giả có khen huyện trưởng làm việc chăm chỉ không? “Chong đèn” để làm gì?

Không. Đây là lời khen giả, thực chất là mỉa mai. Chong đèn đến khuya nghe như cần mẫn, nhưng thật ra “công việc” ấy là việc không chính đáng; theo cách hiểu quen thuộc, huyện trưởng chong đèn để hút thuốc phiện. Người đứng đầu còn hư hỏng hơn cả cấp dưới.

Câu 4. Giọng điệu câu 3 khác hai câu đầu thế nào?

Hai câu đầu kể thẳng, vạch trần thói xấu của quan cấp dưới (đánh bạc, ăn tiền). Câu 3 chuyển sang giọng mỉa mai kín đáo: dùng cụm “làm công việc” để che đi sự sa đọa của quan trên, khiến người đọc phải suy ngẫm mới nhận ra ý châm biếm.

Câu 5. Các nhân vật thuộc nhóm nào trong xã hội? Dụng ý của tác giả?

Họ đều thuộc bộ máy chính quyền, những người đáng ra thực thi pháp luật và giữ trật tự. Bác nhắm vào nhóm này để cho thấy cái xấu không ở một cá nhân mà ở cả hệ thống: quan dưới tham nhũng, quan trên hưởng lạc, chính quyền mục ruỗng.

Câu 6. Câu kết có mâu thuẫn với các câu trước không?

Về nghĩa đen thì có vẻ mâu thuẫn (cảnh thối nát mà bảo “thái bình”). Nhưng về dụng ý thì không mâu thuẫn, vì đây là cách nói phản ngữ: “thái bình” ở đây chính là sự yên ổn giả tạo, tồi tệ, do quan lại buông lơi. Câu kết nhẹ nhàng, bất ngờ nhưng lại là một đòn châm biếm sâu cay.

Nội dung và nghệ thuật cần nhớ

  • Nội dung: bài thơ ghi lại điều Bác mắt thấy tai nghe trong nhà tù; phơi bày sự thối nát của bộ máy quan lại Lai Tân và rộng ra là xã hội Trung Hoa thời đó.
  • Nghệ thuật: kể việc ngắn gọn, chọn chi tiết tiêu biểu; ba câu đầu liệt kê, câu cuối bất ngờ đảo ý; giọng điệu trào phúng kín đáo, dùng phản ngữ (“vẫn thái bình”).

Lỗi hay gặp: viết rằng Bác khen huyện trưởng, hoặc nhầm “Lai Tân” là tên nhà tù. Hãy nhớ đó là tên huyện và lời khen chỉ là bề ngoài.

Viết kết nối với đọc

Đề: viết đoạn văn khoảng 7–9 câu làm rõ chất trào phúng nhẹ nhàng mà sâu cay qua câu “Trời đất Lai Tân vẫn thái bình”.

Gợi ý các ý: (1) giới thiệu bài thơ và câu kết; (2) ba câu đầu kể thói xấu của ba viên quan; (3) câu kết ngược lại hoàn toàn với thực tế; (4) giọng điệu bình thản mà ý mỉa mai nặng; (5) khẳng định giá trị tố cáo và tài năng của Bác.

Đoạn tham khảo: Câu thơ “Trời đất Lai Tân vẫn thái bình” nghe như một lời tổng kết yên ả. Thế nhưng đặt sau ba câu thơ kể chuyện quan quản tù đánh bạc, cảnh trưởng ăn tiền phạm nhân, huyện trưởng lén lút hưởng lạc, lời ấy bỗng trở nên đầy mỉa mai. Hóa ra “thái bình” chỉ là cái vỏ, bên trong là sự mục ruỗng của cả bộ máy. Tác giả không hề lớn tiếng lên án mà kể bằng giọng bình thản, như người chép sự việc. Chính sự điềm nhiên ấy khiến tiếng cười thêm cay đắng. Người đọc phải tự thấy ngược lại: nơi có kẻ canh giữ pháp luật mà phạm pháp thì làm gì có thái bình thật. Chỉ bằng một câu kết bất ngờ, Hồ Chí Minh đã vạch trần cả chế độ nhà tù thối nát. Bài thơ nhỏ mà tố cáo lớn, cho thấy bút pháp trào phúng tài tình của Người.

Muốn tham khảo thêm nhiều đoạn văn, xem Top 10 đoạn văn làm rõ chất trào phúng của bài thơ Lai Tân.

Luyện tập nhanh

  1. Bài 1. Vì sao nói tiếng cười trong bài thơ “nhẹ nhàng mà sâu cay”?
    Đáp án gợi ý: nhẹ nhàng vì tác giả kể bình thản, không dùng lời chửi mắng; sâu cay vì cái kết “thái bình” đối lập với thực tế, buộc người đọc nhận ra sự thối nát của cả bộ máy.
  2. Bài 2. Nếu đảo thứ tự, đặt câu “vẫn thái bình” lên đầu bài thì hiệu quả thay đổi thế nào?
    Đáp án gợi ý: mất yếu tố bất ngờ; câu thơ trở thành lời nhận định trực tiếp chứ không còn là cú đảo ý mỉa mai ở cuối, tiếng cười kém sâu cay.

Các bài soạn liên quan trong bài học

  • Thực hành tiếng Việt trang 84
  • Thực hành tiếng Việt trang 86
  • Một số giọng điệu của tiếng cười trong thơ trào phúng
  • Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học (thơ trào phúng)
  • Soạn văn 8 – Kết nối tri thức (cả năm)

Câu hỏi thường gặp

Bài thơ Lai Tân thuộc thể thơ nào?

Bài thơ thuộc thể thất ngôn tứ tuyệt Đường luật, gồm bốn câu theo bố cục khai – thừa – chuyển – hợp, gieo vần ở câu 1, 2 và 4, viết bằng chữ Hán.

Lai Tân là gì, có phải tên nhà tù không?

Lai Tân là tên một huyện ở Quảng Tây (Trung Quốc), nơi Bác bị giải qua trong thời gian bị giam. Đây không phải tên nhà tù; bài thơ dùng nơi này để nói về cả bộ máy chính quyền địa phương.

Câu thơ cuối "Trời đất Lai Tân vẫn thái bình" có ý nghĩa gì?

Đó là lời mỉa mai: bề ngoài là yên ổn, nhưng thực chất quan lại thối nát, đánh bạc, ăn hối lộ, hưởng lạc. Câu kết nhẹ nhàng mà tố cáo sâu cay.

Bài thơ Lai Tân nằm trong tác phẩm nào của Hồ Chí Minh?

Bài thơ nằm trong tập thơ chữ Hán "Ngục trung nhật ký" (Nhật ký trong tù), viết trong thời gian Bác bị giam ở Trung Quốc khoảng 1942–1943.