Trả lời nhanh
Chiếu dời đô (Thiên đô chiếu) là văn bản nghị luận trung đại của Lí Công Uẩn, ban bố năm 1010 về việc dời đô từ Hoa Lư ra Đại La. Bài chiếu có hai luận điểm chính: vì sao phải dời đô và vì sao Đại La xứng đáng là kinh đô. Lập luận chặt chẽ, tình lí hài hòa, thể hiện khát vọng xây dựng đất nước độc lập, thống nhất, hưng thịnh lâu dài.
1. Tìm hiểu chung trước khi soạn
- Tác giả: Lí Công Uẩn (974 – 1028), tức vua Lí Thái Tổ, người sáng lập triều Lí.
- Hoàn cảnh: năm 1010, sau khi lên ngôi, nhà vua quyết định chuyển kinh đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) ra thành Đại La; khi đến nơi, vua đổi tên là Thăng Long.
- Thể loại: chiếu – loại văn bản do vua ban bố mệnh lệnh, chủ trương cho thần dân. Tuy là văn bản hành chính nhưng bài chiếu này có nhiều yếu tố của văn chính luận.
- Phương thức biểu đạt chính: nghị luận.
Mẹo nhớ: “Chiếu” là lệnh của vua, “biểu” là lời dâng lên vua, “hịch” là lời kêu gọi đánh giặc. Đừng nhầm ba thể loại này khi làm bài.
2. Bố cục của văn bản
Có thể chia bài chiếu thành ba phần theo mạch lập luận:
- Phần 1 (từ đầu đến “phong tục phồn thịnh”): nêu cơ sở lịch sử – các triều đại xưa như nhà Thương, nhà Chu đã nhiều lần dời đô để mưu nghiệp lớn lâu dài.
- Phần 2 (tiếp đến “không thể không dời đổi”): chỉ ra thực trạng – hai nhà Đinh, Lê cứ đóng đô ở Hoa Lư nên vận nước ngắn ngủi, dân tổn hao; vì thế phải dời đô.
- Phần 3 (còn lại): nêu ưu thế của thành Đại La và hỏi ý kiến quần thần: “Các khanh nghĩ thế nào?”.
Lưu ý: tùy sách, bố cục có thể chia hai phần (lí do dời đô – lí do chọn Đại La). Cách chia nào cũng được nếu em giải thích được mạch lập luận.
3. Hệ thống luận điểm, lí lẽ, bằng chứng
| Luận điểm | Lí lẽ | Bằng chứng |
|---|---|---|
| Vì sao phải dời đô? | Dời đô là để chọn nơi trung tâm, tính kế muôn đời cho con cháu, “trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân”. Hoa Lư là vùng núi, đất hẹp, không còn thích hợp cho một quốc gia đang lớn mạnh. | Nhà Thương năm lần dời đô, nhà Chu ba lần dời đô nên vận nước lâu dài; nhà Đinh, Lê không dời đô nên vận nước ngắn ngủi, dân khổ. |
| Vì sao Đại La xứng đáng là kinh đô? | Vị trí trung tâm, thế đất “rồng cuộn hổ ngồi”, rộng và bằng phẳng, cao thoáng, dân không chịu cảnh thấp trũng, muôn vật phong phú; là nơi tụ hội của bốn phương. | Đại La vốn là đô cũ của Cao Vương (Cao Biền); “xem khắp nước Việt ta, chỉ nơi đây là thắng địa”. |
4. Trả lời các câu hỏi thường gặp khi soạn
Vì sao một văn bản hành chính vẫn đậm chất văn chương?
Bài chiếu không chỉ ra lệnh khô khan. Tác giả lập luận có hệ thống, dùng câu văn biền ngẫu (các vế đối nhau, nhịp nhàng) và có giọng điệu thân tình. Nhờ vậy văn bản vừa thuyết phục bằng lí trí, vừa lay động tình cảm.
Cách lập luận có gì đặc sắc?
- Đi từ cái chung (lệ xưa của các triều đại Trung Hoa) đến cái riêng (hoàn cảnh nước Đại Việt).
- Dùng so sánh, đối chiếu: triều dời đô thì lâu dài, triều không dời thì ngắn ngủi.
- Lí lẽ gắn với bằng chứng lịch sử và đặc điểm địa lí cụ thể của Đại La.
- Kết bằng câu hỏi “Các khanh nghĩ thế nào?” – nhà vua vừa quyết định vừa trưng cầu ý kiến, thể hiện sự tôn trọng và lòng tin vào triều thần.
Nhà vua nhìn Đại La từ những góc độ nào?
Tác giả đánh giá Đại La theo ba góc độ: địa lí (trung tâm, thế đất, địa hình), dân sinh (đời sống không bị ngập lụt, vật sản phong phú) và chính trị – lịch sử (từng là đô cũ, là nơi tụ hội bốn phương). Nhìn nhiều chiều như vậy nên kết luận “đáng là kinh sư mãi muôn đời” rất có sức nặng.
5. Nghệ thuật và nội dung
Nghệ thuật:
- Lập luận chặt chẽ, lí lẽ sắc sảo, dẫn chứng tiêu biểu.
- Lối văn chính luận, câu văn biền ngẫu cân đối.
- Kết hợp hài hòa giữa lí và tình.
Nội dung: Văn bản phản ánh ý chí tự cường của dân tộc Đại Việt trên đà lớn mạnh và khát vọng về một đất nước độc lập, thống nhất, thịnh vượng. Quyết định dời đô là một bước ngoặt: Thăng Long về sau là kinh đô của nhiều triều đại.
6. Lỗi sai thường gặp khi làm bài
- Viết “dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long” như thể tên Thăng Long có sẵn. Chính xác: dời ra Đại La, sau đó đổi tên thành Thăng Long.
- Chỉ kể lại nội dung mà không phân tích cách lập luận.
- Nhầm “Cao Vương” (Cao Biền) với một vị vua Việt Nam.
- Quên nhắc câu hỏi cuối bài – chi tiết thể hiện sự mềm dẻo, dân chủ.
7. Luyện tập
- Đề: Nêu hai bằng chứng lịch sử mà Lí Công Uẩn dùng để chứng minh dời đô là cần thiết.
Gợi ý: (1) Nhà Thương, nhà Chu nhiều lần dời đô nên vận nước lâu dài; (2) nhà Đinh, Lê không dời đô nên vận nước ngắn ngủi, nhân dân tổn hao. - Đề: Viết 3–4 câu nêu tác dụng của câu hỏi “Các khanh nghĩ thế nào?”.
Gợi ý: Câu hỏi tạo sự đối thoại, cho thấy nhà vua coi trọng ý kiến quần thần; mệnh lệnh nhờ vậy trở nên mềm mại, dễ được đồng thuận; đồng thời thể hiện sự tự tin vào lí lẽ đã nêu. - Đề: Hãy cho biết em thấy điều gì đáng học ở cách thuyết phục của Lí Công Uẩn?
Gợi ý: Nêu lí do rõ ràng, có dẫn chứng, so sánh được – mất, rồi mới đưa ra đề xuất và lắng nghe người khác. Có thể vận dụng khi em thuyết trình hoặc viết bài nghị luận.
Xem thêm
- Văn bản Chiếu dời đô – nội dung, tác giả, tác phẩm
- Bố cục bài Chiếu dời đô
- Tóm tắt Chiếu dời đô
- Củng cố, mở rộng trang 77
- Đọc mở rộng trang 79
- Tri thức ngữ văn trang 81
- Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu
- Soạn văn 8 – Kết nối tri thức
Cùng chuyên đề: Mục lục khác cùng môn, lớp: Soạn văn 8 Chân trời sáng tạo: mục lục soạn bài đủ Tập 1 và Tập 2; Viết bài văn nghị luận về một vấn đề đời sống lớp 8: dàn ý + 5 bài mẫu; Trưởng giả học làm sang (Mô-li-e): Tác giả, nội dung, bố cục, nghệ thuật.
Câu hỏi thường gặp
Chiếu dời đô do ai viết và viết năm nào?
Văn bản do Lí Công Uẩn (vua Lí Thái Tổ) ban bố năm 1010, thông báo việc dời kinh đô từ Hoa Lư ra thành Đại La.
Chiếu dời đô có mấy luận điểm chính?
Có hai luận điểm: (1) vì sao phải dời đô; (2) vì sao thành Đại La xứng đáng là kinh đô bậc nhất. Mỗi luận điểm đều có lí lẽ và bằng chứng đi kèm.
Vì sao nói Chiếu dời đô vừa có lí vừa có tình?
Bài chiếu đưa lí lẽ và bằng chứng lịch sử chặt chẽ, đồng thời thể hiện nỗi đau xót về vận nước, lòng thương dân và kết thúc bằng câu hỏi trưng cầu ý kiến quần thần.
Chiếu dời đô thuộc thể loại gì?
Thuộc thể chiếu, loại văn bản hành chính của vua, nhưng có nhiều yếu tố của văn nghị luận chính luận trung đại.