Trả lời nhanh
Đoạn trích Thúy Kiều báo ân báo oán (Truyện Kiều – Nguyễn Du) kể cảnh Kiều, khi đã có quyền lực nhờ Từ Hải, mở phiên xử: trả ơn Thúc Sinh rất hậu, rồi đối diện Hoạn Thư – kẻ từng hành hạ mình. Nghe Hoạn Thư biện bạch khôn ngoan và nhận lỗi, Kiều tha bổng. Đoạn trích thể hiện ước mơ công lí “ở hiền gặp lành, ác giả ác báo” và tấm lòng nhân hậu, vị tha của Thúy Kiều.
Thông tin nhanh về đoạn trích
| Tác giả | Nguyễn Du (1765 – 1820) |
| Tác phẩm | Truyện Kiều (Đoạn trường tân thanh), truyện thơ Nôm 3254 câu lục bát |
| Vị trí | Phần thứ hai “Gia biến và lưu lạc”, sau khi Từ Hải giúp Kiều báo ân báo oán |
| Thể thơ | Lục bát |
| Phương thức biểu đạt | Tự sự kết hợp miêu tả và biểu cảm, nổi bật là đối thoại |
| Nhân vật | Thúy Kiều, Thúc Sinh, Hoạn Thư |
| Chủ đề | Khát vọng công lí và lòng nhân hậu, vị tha của Kiều |
Tác giả Nguyễn Du
- Nguyễn Du tên chữ là Tố Như, hiệu Thanh Hiên, quê làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; sinh trong một gia đình đại quý tộc nhiều đời làm quan, có truyền thống văn học.
- Ông sống giữa thời loạn lạc cuối thế kỉ XVIII – đầu thế kỉ XIX, từng nhiều năm phiêu bạt, chứng kiến nhiều cảnh đời đau khổ; sau ra làm quan triều Nguyễn và có chuyến đi sứ Trung Quốc.
- Ông là đại thi hào dân tộc với sáng tác chữ Hán (Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục) và chữ Nôm (Truyện Kiều, Văn chiêu hồn). Năm 2015, ông được UNESCO vinh danh nhân kỉ niệm 250 năm ngày sinh.
Tác phẩm Truyện Kiều và vị trí đoạn trích
Truyện Kiều được Nguyễn Du sáng tác dựa trên cốt truyện Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc), nhưng phần sáng tạo của ông là rất lớn, nhất là nghệ thuật miêu tả nội tâm và ngôn ngữ thơ. Tác phẩm gồm ba phần: Gặp gỡ và đính ước; Gia biến và lưu lạc; Đoàn tụ.
Đoạn trích thuộc phần thứ hai. Sau nhiều năm lưu lạc, Kiều được Từ Hải cứu khỏi lầu xanh. Khi Từ Hải đã thành một thế lực lớn, chàng giúp Kiều mở cuộc báo ân báo oán: những người cưu mang Kiều được trả ơn, những kẻ hãm hại nàng bị trừng trị. Cảnh với Thúc Sinh và Hoạn Thư là đoạn đặc sắc nhất của phiên xử này.
Văn bản đoạn trích
Cho gươm mời đến Thúc lang,
Mặt như chàm đổ, mình dường dẽ run.
Nàng rằng: “Nghĩa nặng nghìn non,
Lâm Tri người cũ chàng còn nhớ không?
Sâm Thương chẳng vẹn chữ tòng,
Tại ai, há dám phụ lòng cố nhân?
Gấm trăm cuốn, bạc nghìn cân,
Tạ lòng dễ xứng, báo ân gọi là.
Vợ chàng quỷ quái tinh ma,
Phen này kẻ cắp bà già gặp nhau.
Kiến bò miệng chén chưa lâu,
Mưu sâu cũng trả nghĩa sâu cho vừa.”
Thoắt trông nàng đã chào thưa:
“Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây!
Đàn bà dễ có mấy tay,
Đời xưa mấy mặt, đời này mấy gan!
Dễ dàng là thói hồng nhan,
Càng cay nghiệt lắm, càng oan trái nhiều.”
Hoạn Thư hồn lạc phách xiêu,
Khấu đầu dưới trướng, liệu điều kêu ca.
Rằng: “Tôi chút phận đàn bà,
Ghen tuông thì cũng người ta thường tình.
Nghĩ cho khi gác viết kinh,
Với khi khỏi cửa dứt tình chẳng theo.
Lòng riêng, riêng những kính yêu,
Chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai.
Trót lòng gây việc chông gai,
Còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng.”
Khen cho: “Thật đã nên rằng,
Khôn ngoan đến mực nói năng phải lời.
Tha ra thì cũng may đời,
Làm ra thì cũng ra người nhỏ nhen.
Đã lòng tri quá thì nên.”
Truyền quân lệnh xuống trướng tiền tha ngay.
Bố cục đoạn trích
- 12 câu đầu: Kiều báo ân Thúc Sinh (đồng thời báo trước sự trừng phạt dành cho Hoạn Thư).
- 22 câu còn lại: Kiều báo oán Hoạn Thư – Kiều buộc tội, Hoạn Thư biện bạch, Kiều quyết định tha.
Phân tích nội dung chính
1. Kiều báo ân Thúc Sinh
- Thúc Sinh được “mời” đến nhưng “mặt như chàm đổ”, run sợ – chàng vốn yếu đuối, từng không bảo vệ được Kiều.
- Kiều nói với Thúc Sinh bằng lời lẽ trang trọng, nhiều từ Hán Việt và điển cố (“nghĩa nặng nghìn non”, “Sâm Thương”, “chữ tòng”, “cố nhân”), nhắc lại ân tình thời ở Lâm Tri. Nàng hiểu lỗi không ở Thúc Sinh mà ở hoàn cảnh.
- Món quà “gấm trăm cuốn, bạc nghìn cân” rất hậu, nhưng Kiều vẫn khiêm nhường cho rằng chỉ là “báo ân gọi là” – ơn nghĩa không đo được bằng của cải.
- Khi nhắc đến Hoạn Thư, giọng Kiều đổi hẳn: dùng thành ngữ dân gian nôm na, sắc lạnh (“quỷ quái tinh ma”, “kẻ cắp bà già gặp nhau”, “kiến bò miệng chén”), báo trước sự trả thù tương xứng.
2. Kiều báo oán Hoạn Thư
- Kiều “chào thưa” và gọi “tiểu thư” – cách xưng hô y như thời làm hầu, nhưng nay mang giọng mỉa mai, đay nghiến.
- Kiều đánh giá Hoạn Thư là kẻ hiếm có về sự lợi hại, đồng thời cảnh báo quy luật: càng cay nghiệt thì càng chuốc oan trái.
- Hoạn Thư “hồn lạc phách xiêu” nhưng vẫn đủ tỉnh táo để biện bạch, với bốn ý: ghen tuông là thường tình của đàn bà; mình đã cho Kiều ra gác viết kinh và không đuổi theo khi Kiều bỏ trốn; trong chuyện “chồng chung” không ai nhường ai; cuối cùng nhận lỗi và xin Kiều mở lượng khoan dung.
- Lời biện bạch vừa dựa vào tâm lí chung của phụ nữ, vừa kể công, vừa nhận tội – khiến Kiều “khen cho” là khôn ngoan, “nói năng phải lời”.
- Kiều tha Hoạn Thư vì người đã biết lỗi (“tri quá”), và vì nếu trừng phạt thì mình thành “người nhỏ nhen”. Đó là sự độ lượng của một tâm hồn cao thượng.

Giá trị nội dung và nghệ thuật
| Giá trị nội dung | Giá trị nghệ thuật |
|---|---|
|
|
Dàn ý chi tiết phân tích đoạn trích
Mở bài
Giới thiệu Nguyễn Du, Truyện Kiều và đoạn trích Thúy Kiều báo ân báo oán – nơi Kiều lần đầu được làm chủ số phận, thể hiện ân nghĩa và lẽ công bằng.
Thân bài
- Hoàn cảnh: Kiều nhờ Từ Hải có quyền lực, mở phiên báo ân báo oán.
- Kiều với Thúc Sinh: lời lẽ trang trọng, quà tặng hậu hĩnh, tấm lòng biết ơn, thấu hiểu.
- Kiều với Hoạn Thư:
- Lời buộc tội mỉa mai, đanh thép.
- Lời biện bạch khôn ngoan của Hoạn Thư (bốn ý).
- Quyết định tha bổng: lí do và ý nghĩa.
- Nghệ thuật: ngôn ngữ đối thoại, khắc họa tính cách nhân vật.
- Đánh giá: đoạn trích vừa thỏa mãn khát vọng công lí, vừa đề cao lòng khoan dung.
Kết bài
Khẳng định giá trị nhân đạo của đoạn trích và tài năng của Nguyễn Du; liên hệ bài học về lòng biết ơn và sự bao dung.
Bài văn mẫu 1 – Phân tích đoạn trích
Trong những năm tháng lưu lạc, Thúy Kiều gần như chưa một lần được quyết định số phận mình. Chỉ đến khi gặp Từ Hải, nàng mới có cơ hội đứng ở vị trí người phán xử. Đoạn trích Thúy Kiều báo ân báo oán vì thế không chỉ là một phiên tòa, mà còn là khoảnh khắc nhân phẩm của Kiều được khẳng định.
Người đầu tiên được mời đến là Thúc Sinh. Chi tiết “mặt như chàm đổ, mình dường dẽ run” cho thấy chàng vẫn là con người nhu nhược như xưa. Nhưng Kiều không trách. Nàng nhắc “nghĩa nặng nghìn non” thời ở Lâm Tri, nói lời trang trọng với nhiều từ Hán Việt, như muốn nâng niu ân tình ấy. Ngay cả món quà “gấm trăm cuốn, bạc nghìn cân” nàng vẫn coi là “báo ân gọi là”. Một người từng chịu bao thiệt thòi mà vẫn giữ trọn lòng biết ơn – đó là nét đẹp đầu tiên của Kiều trong đoạn trích.
Đến Hoạn Thư, lời Kiều đổi sắc. Câu “Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây!” vừa lễ phép bề ngoài, vừa mỉa mai sâu cay: người xưa từng hành hạ mình nay phải quỳ dưới trướng. Kiều còn chỉ ra quy luật “càng cay nghiệt lắm, càng oan trái nhiều”, như một lời tuyên án.
Thế nhưng Hoạn Thư không phải người dễ khuất phục. Trong lúc “hồn lạc phách xiêu”, mụ vẫn tìm ra lí lẽ: ghen tuông là chuyện thường tình; mình từng cho Kiều ra gác viết kinh, không đuổi theo khi Kiều trốn; chuyện “chồng chung” thì khó ai nhường ai; rồi khéo léo nhận lỗi, trông vào “lượng bể”. Lời lẽ vừa có tình, vừa có lí, đặt Kiều vào thế khó.
Kiều đã chọn tha. Nàng hiểu rằng nếu trả thù một người đã biết lỗi, mình sẽ trở thành “người nhỏ nhen”. Quyết định ấy cho thấy Kiều không bị cơn giận chi phối; nàng đặt sự cao thượng lên trên nỗi hận riêng. Đồng thời, qua cuộc đối đáp, Nguyễn Du khắc họa thành công hai tính cách đối lập: một Thúy Kiều trọng nghĩa, bao dung và một Hoạn Thư sắc sảo, “khôn ngoan đến mực”.
Đoạn trích khép lại bằng lệnh tha “ngay”, dứt khoát và nhẹ nhõm. Nó vừa đáp ứng khát vọng công lí của người đọc, vừa để lại bài học về lòng vị tha – một vẻ đẹp nhân văn làm nên sức sống lâu bền của Truyện Kiều.
Bài văn mẫu 2 – Cảm nhận về lòng vị tha của Thúy Kiều
Người đọc Truyện Kiều thường chờ đợi phiên báo oán như chờ một sự trả giá đích đáng cho những kẻ ác. Vậy mà trước Hoạn Thư – người từng bắt Kiều làm con ở, đánh đập, hành hạ – Kiều lại tha. Chi tiết ấy khiến nhiều người bất ngờ, nhưng càng ngẫm càng thấy đó là cái kết đúng với tâm hồn Kiều.
Kiều tha không phải vì yếu lòng. Nàng đã nói những lời rất sắc, đã cho Hoạn Thư thấy hậu quả của sự cay nghiệt. Nàng tha vì Hoạn Thư đã nhận lỗi, và vì nàng không muốn sự trả thù biến mình thành người nhỏ nhen. Ở đây, công lí không chỉ là trừng phạt, mà còn là cảm hóa.
Cũng cần thấy rằng lời biện bạch của Hoạn Thư đã chạm vào chính lẽ thường tình mà Kiều thấu hiểu: ghen tuông là bản năng, “chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai”. Kiều tha trong sự thấu hiểu ấy. Nguyễn Du vì vậy không xây dựng một nhân vật đơn giản, chỉ biết thù hận; ông cho Kiều chiều sâu của một con người biết suy xét, biết phân biệt lỗi lầm và tội ác.
Lòng vị tha của Kiều vẫn còn nguyên giá trị hôm nay: biết ơn người giúp mình, nghiêm khắc với cái sai nhưng bao dung với người biết hối lỗi. Đó là bài học làm người mà Nguyễn Du gửi lại qua một đoạn trích chỉ hơn ba mươi câu thơ.
Câu hỏi ôn tập nhanh
- Vì sao Kiều nói với Thúc Sinh bằng nhiều từ Hán Việt, còn với Hoạn Thư lại dùng thành ngữ dân gian? Gợi ý: phù hợp đối tượng – trang trọng với ân nhân, mỉa mai, sắc lạnh với kẻ thù.
- Hoạn Thư đã đưa ra những lí lẽ nào để gỡ tội? Gợi ý: ghen là thường tình; kể công cho viết kinh, không đuổi theo; chồng chung khó nhường; nhận lỗi, xin khoan dung.
- Việc Kiều tha Hoạn Thư có hợp lí không? Gợi ý: hợp lí vì Hoạn Thư biết lỗi, thể hiện sự độ lượng và cao thượng của Kiều.
Học tiếp: soạn bài Thúy Kiều báo ân báo oán, các bài phân tích Thúy Kiều báo ân báo oán, cảm nhận nhân vật Hoạn Thư và trắc nghiệm Thúy Kiều báo ân báo oán.
Câu hỏi thường gặp
Đoạn trích Thúy Kiều báo ân báo oán nằm ở phần nào của Truyện Kiều?
Đoạn trích thuộc phần thứ hai “Gia biến và lưu lạc”, khi Kiều được Từ Hải giúp mở phiên xử để trả ơn những người cưu mang và trừng trị những kẻ hãm hại mình.
Vì sao Thúy Kiều tha cho Hoạn Thư?
Vì Hoạn Thư biện bạch khôn ngoan, nói năng phải lời và đã nhận lỗi; Kiều cho rằng người biết lỗi thì nên tha, nếu trừng phạt thì mình lại thành người nhỏ nhen. Đó là biểu hiện của lòng vị tha, cao thượng.
Bố cục đoạn trích Thúy Kiều báo ân báo oán gồm mấy phần?
Gồm 2 phần: 12 câu đầu là cảnh Kiều báo ân Thúc Sinh; phần còn lại là cảnh Kiều báo oán Hoạn Thư, gồm lời buộc tội, lời biện bạch và quyết định tha.
Nghệ thuật nổi bật của đoạn trích là gì?
Nổi bật là ngôn ngữ đối thoại khắc họa tính cách nhân vật: lời Kiều trang trọng với Thúc Sinh, mỉa mai với Hoạn Thư; lời Hoạn Thư khôn khéo, lí lẽ chặt chẽ; kết hợp từ Hán Việt, điển cố và thành ngữ dân gian.