Trả lời nhanh
“Bàn luận về phép học” (thường gọi tắt là “Bàn về phép học”) là đoạn trích trong bài tấu Nguyễn Thiếp dâng vua Quang Trung năm 1791. Văn bản nêu mục đích chân chính của việc học là học để làm người, phê phán lối học hình thức, cầu danh lợi, đề ra phương pháp học tuần tự, học rộng rồi tóm lược, học đi đôi với hành.
Bài viết này giúp em nắm chắc những ý cốt lõi của văn bản theo trình tự: tác giả, hoàn cảnh ra đời, thể loại, bố cục, nội dung từng phần, nghệ thuật, rồi luyện tập. Đây là nội dung thuộc chương trình Ngữ văn 8 trước đây, nhiều thầy cô vẫn dùng làm văn bản nghị luận trung đại để ôn tập và mở rộng.
1. Tóm tắt văn bản
Nguyễn Thiếp mở đầu bằng một khẳng định gọn: người không học thì không biết rõ đạo, cũng như ngọc không mài thì không thành đồ vật. Từ đó ông nói rõ học là để làm người, tức biết đạo lí trong quan hệ gia đình và xã hội.
Ông chỉ ra thực trạng: nhiều người học theo lối thuộc câu chữ, học để cầu danh lợi, khiến chúa tầm thường, bề tôi nịnh hót, đất nước suy vong. Sau đó ông đề nghị nhà vua mở rộng trường học, cho nhiều người được học và học theo phương pháp đúng: từ cái cơ bản lên cao dần, học rộng rồi biết rút gọn, học phải đi đôi với hành.
Kết lại, ông tin rằng làm được như vậy thì nhân tài nhiều, chế độ vững, quốc gia hưng thịnh.
2. Tác giả Nguyễn Thiếp
- Nguyễn Thiếp (1723–1804), quê ở Hà Tĩnh, người đương thời tôn xưng là La Sơn Phu Tử (thầy học đất La Sơn).
- Ông đỗ đạt sớm, làm quan một thời gian dưới triều Lê rồi cáo quan về ở ẩn, mở trường dạy học. Học trò và người đời kính trọng ông vì học rộng, hiểu sâu, giữ phẩm cách thanh cao.
- Khi Nguyễn Huệ lên ngôi (Quang Trung), vua nhiều lần mời ông ra giúp. Ông tham gia góp ý về việc xây dựng đất nước, đặc biệt là văn hoá, giáo dục.
Mẹo nhớ: “Phu Tử” là tiếng tôn xưng thầy học lớn. Chỉ cần nhớ La Sơn Phu Tử là người thầy mà vua Quang Trung trọng dụng thì khó lẫn với các tác giả khác.
3. Hoàn cảnh ra đời và thể loại
| Nội dung | Ghi nhớ |
|---|---|
| Hoàn cảnh | Quang Trung xây dựng đất nước, mời Nguyễn Thiếp giúp việc văn hoá, giáo dục. Tháng 8 năm 1791, ông dâng bài tấu lên vua. |
| Xuất xứ | Trích từ bài tấu dâng vua Quang Trung, bản dịch từ chữ Hán. |
| Thể loại | Tấu: văn của bề tôi gửi lên vua chúa để trình bày sự việc, ý kiến, đề nghị. |
| Phương thức biểu đạt | Nghị luận. |
Vì là bài tấu nên lời văn mang tính đề nghị, thành khẩn, vừa lễ độ vừa dứt khoát. Em nên nhớ điều này khi trả lời câu hỏi về giọng điệu và mục đích viết của văn bản.
4. Bố cục
Văn bản chia làm ba phần:
- Phần 1 (từ đầu đến “bị thất truyền”): mục đích chân chính của việc học và sự phê phán lối học sai lệch.
- Phần 2 (tiếp đến “xin chớ bỏ qua”): bàn về cách học, quan điểm và phương pháp học.
- Phần 3 (còn lại): tác dụng của việc học chân chính đối với đất nước.
Lưu ý: tuỳ sách, thầy cô có thể chia ba đoạn theo ý (mục đích, phương pháp, tác dụng). Cách chia nào cũng đúng nếu em nêu được đủ ba luận điểm này.

5. Đọc hiểu theo từng phần
5.1. Mục đích chân chính của việc học
- Tác giả nói thẳng, không vòng vo: học là để “biết rõ đạo”, tức học để làm người.
- Hình ảnh so sánh “ngọc không mài thì không thành đồ vật” cho thấy con người cũng cần học mới nên người. Đây là lí lẽ quen thuộc, dễ hiểu nên có sức thuyết phục.
- “Đạo” ở đây là đạo lí làm người: cách ứng xử trong gia đình và xã hội, không chỉ là chữ nghĩa.
5.2. Phê phán lối học lệch lạc
| Lối học bị phê phán | Biểu hiện | Hậu quả |
|---|---|---|
| Học hình thức | Chỉ học thuộc câu chữ, không hiểu nội dung, không biết vận dụng. | Kiến thức rỗng, không giúp ích cho đời. |
| Học cầu danh lợi | Học để có tiếng tăm, địa vị, lợi lộc. | Đạo đức suy, chúa tầm thường, bề tôi nịnh bợ, nước mất nhà tan. |
Điểm chung của hai lối học này là không hướng tới đạo lí và tri thức thật. Ông truy tới tận cùng hậu quả để nhấn mạnh: học sai thì không chỉ hại một người mà hại cả quốc gia.
5.3. Quan điểm và phương pháp học
Quan điểm: việc học cần được phổ biến rộng khắp, mở thêm trường lớp, mở rộng đối tượng người học và tạo điều kiện thuận lợi cho việc học.
Phương pháp:
- Học tuần tự: bắt đầu từ kiến thức nền tảng, tiến dần lên cao.
- Học rộng, nghĩ sâu, biết tóm lược những điều cơ bản, cốt yếu.
- Học đi đôi với hành: học để làm, không chỉ để biết. Đây là mục đích cuối cùng của việc học.
5.4. Tác dụng của việc học chân chính
Học đúng mục đích, đúng phương pháp thì sẽ bồi dưỡng được nhân tài, người tài lập công giúp nước, đất nước hưng thịnh. Qua đó, ta thấy Nguyễn Thiếp đề cao việc học chân chính, đồng thời gửi gắm niềm tin và kì vọng vào tương lai đất nước dưới triều đại mới.
6. Giá trị nội dung và nghệ thuật
- Nội dung: bài tấu cho thấy học là để làm người có đạo đức, có tri thức, góp sức xây dựng đất nước chứ không phải để cầu danh lợi. Học tốt cần phương pháp đúng, nhất là học đi đôi với hành.
- Nghệ thuật: lập luận chặt chẽ, luận điểm rõ ràng, đi từ mục đích đến thực trạng, phương pháp, tác dụng; dùng hình ảnh so sánh dễ hiểu; ngôn ngữ giản dị, ý tứ nói thẳng nên giàu sức thuyết phục.
Bài học cho em hôm nay: học không phải để thi lấy điểm cao rồi quên. Em học để hiểu, để làm được việc, và để trở thành người tử tế, có ích. Ý tưởng “học đi đôi với hành” vẫn đúng với cách em làm thí nghiệm, làm bài tập vận dụng, tham gia hoạt động thực tế ở trường.
7. Lỗi sai thường gặp khi làm bài
- Viết nhầm tác giả là “Nguyễn Trãi” hoặc nhầm vua là “Gia Long”. Người nhận bài tấu là vua Quang Trung.
- Kể ý một cách lộn xộn. Hãy bám theo ba luận điểm: mục đích, phương pháp, tác dụng.
- Chỉ nêu “học đi đôi với hành” mà không giải thích. Cần nói rõ: học lí thuyết phải đem ra vận dụng, và hành giúp hiểu sâu điều đã học.
- Gọi văn bản là “bài thơ” hoặc “truyện”. Đúng là tấu, thuộc văn nghị luận trung đại.
8. Luyện tập (có đáp án)
Câu 1. Vì sao tác giả so sánh “ngọc không mài thì không thành đồ vật” với việc học của con người?
Gợi ý đáp án: Ngọc quý nhưng phải qua mài giũa mới có giá trị sử dụng. Con người cũng vậy, phải học mới hiểu đạo lí và trở thành người có ích. Phép so sánh bằng hiện tượng có thật giúp luận điểm dễ hiểu, thuyết phục.
Câu 2. Nêu hai lối học sai trái mà Nguyễn Thiếp phê phán và tác hại của chúng.
Gợi ý đáp án: Học hình thức (chỉ thuộc câu chữ) và học cầu danh lợi. Tác hại: kiến thức không dùng được, đạo đức suy đồi, bề trên tầm thường, bề tôi nịnh nọt, đất nước suy vong.
Câu 3. Em hiểu thế nào là “học đi đôi với hành”? Nêu một ví dụ từ việc học của em.
Gợi ý đáp án: Học đi đôi với hành là học lí thuyết rồi vận dụng vào thực tế để kiểm chứng và hiểu sâu. Ví dụ: học về công thức tính diện tích rồi tự đo và tính diện tích lớp học; hoặc học văn bản nghị luận rồi tập viết một đoạn trình bày ý kiến của mình.
9. Tài liệu ôn tập đi kèm
- Soạn bài Bàn luận về phép học (ngắn nhất)
- Bàn luận về phép học: nội dung, dàn ý phân tích, bố cục, tóm tắt
- Các mẫu tóm tắt Bàn luận về phép học
- Các bài phân tích Bàn luận về phép học
- Các bài cảm nhận Bàn luận về phép học
- Phân tích sự cần thiết và tác dụng của phương pháp học đi đôi với hành
- 17 câu trắc nghiệm Bàn về phép học có đáp án
- Sơ đồ tư duy bài Bàn luận về phép học
- Bàn luận về phép học – Nguyễn Thiếp: nội dung, tác giả, tác phẩm
10. Tác giả, tác phẩm khác trong cùng chương trình
- Thuế máu
- Đi bộ ngao du
- Ông Giuốc-Đanh mặc lễ phục
- Quê hương
- Khi con tu hú
Cùng chuyên đề: Bài nằm trong mục lục Ông đồ (Vũ Đình Liên): Tác giả, tác phẩm, đọc hiểu – Ngữ văn 8. Bài trước: Chiếu dời đô lớp 8: tác giả, tác phẩm, bố cục và nội dung chính.
Câu hỏi thường gặp
Bàn luận về phép học là của ai, viết năm nào?
Văn bản là đoạn trích từ bài tấu của Nguyễn Thiếp (La Sơn Phu Tử) dâng vua Quang Trung vào tháng 8 năm 1791, bản dịch từ chữ Hán.
Mục đích chân chính của việc học theo Nguyễn Thiếp là gì?
Học để biết rõ đạo, tức học để làm người có đạo đức, có tri thức và góp sức cho đất nước, không phải học để cầu danh lợi.
Bàn luận về phép học thuộc thể loại gì?
Thuộc thể tấu, là loại văn của bề tôi gửi lên vua chúa để trình bày ý kiến, đề nghị. Phương thức biểu đạt chính là nghị luận.
Phương pháp học mà Nguyễn Thiếp đề ra gồm những gì?
Gồm học tuần tự từ cơ bản lên cao, học rộng nhưng biết tóm lược điều cốt yếu, nghĩ sâu, và đặc biệt là học đi đôi với hành.