Trả lời nhanh
Bài thơ Đồng chí của Chính Hữu được viết theo thể thơ tự do. Bài gồm 20 dòng, số chữ mỗi dòng không bằng nhau (có dòng 2 chữ, 4 chữ, có dòng 7–8 chữ), không chia khổ đều đặn, vần và nhịp linh hoạt, bám theo mạch cảm xúc của người lính.
Vì sao nói Đồng chí là thơ tự do?
Thơ tự do là thể thơ không bị ràng buộc về số tiếng trong dòng, số dòng trong khổ, cách gieo vần hay ngắt nhịp. Nhà thơ viết sao cho hợp với cảm xúc và nội dung. Đối chiếu với bài Đồng chí, ta thấy đủ các dấu hiệu sau:
- Độ dài dòng thơ không đều: nhiều dòng 7–8 chữ, xen những dòng rất ngắn như “Đồng chí!” (2 chữ), “Áo anh rách vai” (4 chữ), “Chân không giày” (3 chữ), và dòng kết “Đầu súng trăng treo” (4 chữ).
- Không chia khổ theo khuôn: bài liền mạch, người đọc thường chia thành ba phần theo ý (cơ sở hình thành tình đồng chí – biểu hiện – biểu tượng đẹp của tình đồng chí).
- Vần không theo luật cố định: vần được gieo linh hoạt, chủ yếu tạo nhạc điệu nhẹ nhàng chứ không bắt buộc ở vị trí nhất định.
- Nhịp thơ thay đổi: lúc chậm, tâm tình; lúc dồn dập, giàu hình ảnh.
Loại trừ các thể thơ dễ nhầm
| Thể thơ | Đặc điểm | Có phải Đồng chí không? |
|---|---|---|
| Thơ bảy chữ | Mỗi dòng đúng 7 chữ | Không – có dòng 2, 3, 4, 8 chữ |
| Thơ tám chữ | Mỗi dòng đúng 8 chữ | Không – chỉ một số dòng 8 chữ |
| Thơ lục bát | Cặp câu 6 – 8, gieo vần lưng | Không |
| Thơ thất ngôn bát cú | 8 câu, mỗi câu 7 chữ, luật bằng trắc chặt chẽ | Không |
| Thơ tự do | Số chữ, số dòng, vần, nhịp tự do | Đúng |
Lỗi hay gặp: thấy nhiều dòng 7–8 chữ nên vội kết luận “thơ bảy chữ” hoặc “tám chữ”. Muốn chắc chắn, phải kiểm tra toàn bài; chỉ cần có dòng lệch chuẩn rõ rệt, nhất là những dòng ngắn, thì không thể xếp vào thể thơ có số chữ cố định.
Tác dụng của thể thơ tự do trong bài
- Gần với lời nói, giọng tâm tình: hai người lính tâm sự, kể về quê hương, cuộc sống thiếu thốn của mình. Cách nói giản dị, như một lời trò chuyện, ví dụ câu mở đầu “Quê hương anh nước mặn, đồng chua”.
- Nhấn mạnh cảm xúc: dòng thơ “Đồng chí!” chỉ có hai chữ, đứng riêng như một nốt lặng, như tiếng gọi nghẹn lại vì xúc động, lại là điểm kết tụ, “bản lề” của cả bài.
- Tạo sức nặng cho hình ảnh kết: dòng ngắn “Đầu súng trăng treo” khép bài gọn, đột ngột, đọng lại thành biểu tượng: súng (chiến sĩ) và trăng (tâm hồn, hòa bình).
- Hợp với chất liệu đời thường: những chi tiết như áo rách, quần vá, chân không giày được đưa vào thơ một cách tự nhiên, không bị gò bó vần luật.
Mẹo nhớ khi làm bài
Khi gặp câu hỏi xác định thể thơ, hãy làm ba bước: (1) đếm chữ của vài dòng đầu, giữa và cuối; (2) xem có quy luật lặp lại không; (3) kết luận. Với Đồng chí: dòng đầu dài, giữa có dòng ngắn, cuối 4 chữ → không đều → thơ tự do.
Thông tin cần nhớ thêm: bài thơ của Chính Hữu, sáng tác năm 1948, sau chiến dịch Việt Bắc thu đông 1947, sau này in trong tập Đầu súng trăng treo.
Bài luyện tập
- Câu 1. Dòng thơ nào của bài Đồng chí chỉ có hai chữ? Nó có tác dụng gì?
Đáp án: “Đồng chí!”. Dòng này tạo nốt nhấn, thể hiện cảm xúc dồn nén, đồng thời là điểm nối giữa phần cơ sở hình thành và phần biểu hiện của tình đồng chí. - Câu 2. Vì sao không thể xếp bài thơ vào thể tám chữ?
Đáp án: Vì chỉ một số dòng có 8 chữ, còn lại có dòng 2, 3, 4, 7 chữ; số chữ không đồng đều. - Câu 3. Nêu một lợi thế của thể thơ tự do khi viết về người lính.
Đáp án: Lời thơ gần với lời nói thường ngày, giàu chất đời thường, dễ diễn tả cảm xúc chân thực và tạo dòng kết ấn tượng.
Câu hỏi thường gặp
Bài thơ Đồng chí thuộc thể thơ gì?
Bài thơ Đồng chí của Chính Hữu thuộc thể thơ tự do: số chữ mỗi dòng không bằng nhau, không chia khổ đều, vần và nhịp linh hoạt.
Đồng chí có phải thơ tám chữ không?
Không. Dù nhiều dòng 7–8 chữ, bài còn có các dòng ngắn như 'Đồng chí!' (2 chữ), 'Chân không giày' (3 chữ), 'Đầu súng trăng treo' (4 chữ) nên không phải thể tám chữ.
Bài thơ Đồng chí có bao nhiêu dòng?
Bài thơ có 20 dòng, thường được chia thành ba phần theo mạch ý: cơ sở hình thành tình đồng chí, biểu hiện của tình đồng chí và biểu tượng đẹp về tình đồng chí.
Đồng chí do ai sáng tác và vào năm nào?
Bài thơ do Chính Hữu sáng tác năm 1948, sau chiến dịch Việt Bắc thu đông 1947, về sau in trong tập Đầu súng trăng treo.