Lý thuyết Sinh học 11 Kết nối tri thức: 5 chương, 29 bài trọng tâm

Trả lời nhanh

Lý thuyết sinh học 11 kết nối tri thức. Sinh học 11 Kết nối tri thức học sinh học cơ thể: cơ thể sống là hệ thống mở, vừa trao đổi chất và năng lượng với môi trường, vừa cảm ứng, sinh trưởng, phát triển và sinh sản. Sách có 5 chương, 29 bài. Trọng tâm để thi là phương trình quang hợp và hô hấp, đường đi của nước và khoáng, các hình thức hô hấp – tuần hoàn, miễn dịch, cân bằng nội môi, hướng động và tập tính, hormone thực vật, biến thái, sinh sản vô tính và hữu tính.

Chương 1. Trao đổi chất và chuyển hóa năng lượng

Mọi cơ thể đều lấy vật chất và năng lượng từ ngoài, biến đổi chúng, rồi thải phần dư. Đó là định nghĩa vận hành của trao đổi chất. Thực vật tự dưỡng: dùng năng lượng ánh sáng để lắp CO2 và nước thành chất hữu cơ. Động vật dị dưỡng: lấy chất hữu cơ có sẵn trong thức ăn.

Sơ đồ quang hợp tạo glucose và oxygen, hô hấp tạo CO2, nước và ATP
Hình 1. Quang hợp và hô hấp nối với nhau: chất hữu cơ và oxygen của lá trở thành nguyên liệu năng lượng cho mọi tế bào.

Nước và khoáng ở thực vật. Nước vào qua lông hút, đi trong mạch gỗ nhờ lực hút do thoát hơi nước ở khí khổng, đẩy một phần bởi áp suất rễ. Khoáng đa lượng cần nhớ trước là nitrogen, phosphorus, potassium. Thiếu nitrogen lá nhạt, cây còi; thiếu potassium cây yếu, dễ bệnh. Phân bón hợp lý là bù đúng chất đất đang thiếu, không phải bón càng nhiều càng tốt.

Quang hợp. Phương trình gọn, ở mức lớp 11:

6CO2 + 6H2O → C6H12O6 + 6O2

Phản ứng cần ánh sáng và lục lạp chứa chlorophyll. Đếm lại: 6 carbon, 12 hydrogen, 18 oxygen mỗi vế. Quang hợp tạo nguyên liệu và oxygen cho hầu hết sinh giới. Cường độ quang hợp phụ thuộc ánh sáng, nồng độ CO2, nhiệt độ và nước.

Hô hấp tế bào giải phóng năng lượng trong glucose:

C6H12O6 + 6O2 → 6CO2 + 6H2O + năng lượng (ATP)

Một phần năng lượng thoát ra dạng nhiệt. ATP được dùng để hút khoáng, vận chuyển, sinh trưởng, co cơ. Quang hợp và hô hấp không triệt tiêu nhau: ban ngày lá quang hợp mạnh hơn hô hấp nên nhả O2; ban đêm chỉ hô hấp nên lấy O2.

Động vật. Tiêu hóa gồm biến đổi cơ học và hóa học, rồi hấp thụ chất dinh dưỡng vào máu hoặc tương đương. Hô hấp ngoài có bốn kiểu hay gặp: qua bề mặt cơ thể, bằng mang, bằng ống khí, bằng phổi. Tuần hoàn hở (máu trộn với dịch mô, như nhiều chân khớp) khác tuần hoàn kín (máu trong mạch). Cá thường tuần hoàn đơn, một vòng; thú và người tuần hoàn kép, máu đi phổi rồi mới đi cơ thể, nên máu giàu oxygen tách khỏi máu nghèo oxygen. Miễn dịch không đặc hiệu phản ứng nhanh với mọi tác nhân lạ (da, niêm mạc, thực bào, viêm). Miễn dịch đặc hiệu nhắm đúng một kháng nguyên, có trí nhớ, là cơ sở của vaccine. Bài tiết và các cơ chế thần kinh – thể dịch giữ cân bằng nội môi: nhiệt độ, pH, áp suất thẩm thấu, đường huyết dao động trong một khoảng hẹp.

Các bài trong chương: bài 1 khái quát trao đổi chất; bài 2 nước và khoáng; bài 3 thực hành trao đổi nước; bài 4 quang hợp; bài 5 thực hành quang hợp; bài 6 hô hấp thực vật; bài 7 thực hành hô hấp; bài 8 dinh dưỡng và tiêu hóa; bài 9 hô hấp động vật; bài 10 tuần hoàn; bài 11 thực hành tuần hoàn; bài 12 miễn dịch; bài 13 bài tiết và cân bằng nội môi.

Chương 2. Cảm ứng ở sinh vật

Cảm ứng là phản ứng của cơ thể trước kích thích, giúp sinh vật tránh hại và tìm điều kiện thuận. Thực vật không có hệ thần kinh nên trả lời chậm và thường bằng cách đổi hướng sinh trưởng hoặc đổi trạng thái cơ quan.

Hướng động là sinh trưởng hướng tới hoặc tránh xa kích thích, gắn với phân bố hormone không đều. Hướng sáng dương của thân, hướng đất dương của rễ, hướng nước, hướng hóa là các ví dụ. Ứng động không phụ thuộc hướng kích thích: khí khổng đóng mở, hoa nở theo giờ, lá xấu hổ cụp khi chạm. Em đừng gọi mọi cử động của cây là hướng động.

Động vật cảm ứng qua thụ thể, dẫn truyền và đáp ứng. Phản xạ là đơn vị chức năng của hệ thần kinh. Tập tính bẩm sinh có sẵn, cùng loài làm giống nhau (nhện chăng tơ). Tập tính học được hình thành qua tập nhiễm, in vết, học nhận biết điều kiện. Người học thuộc lòng cũng là tập tính học được, nhưng bài sinh học quan tâm cơ chế thích nghi hơn là mẹo học bài.

Bài 14 khái quát cảm ứng; bài 15 cảm ứng thực vật; bài 16 thực hành; bài 17 cảm ứng động vật; bài 18 tập tính.

Chương 3. Sinh trưởng và phát triển

Sinh trưởng là tăng kích thước, khối lượng, số tế bào. Phát triển là những biến đổi về chất, hoàn thiện chức năng, thường không tách rời sinh trưởng nhưng không đồng nghĩa. Một hạt nảy mầm vừa lớn lên vừa đổi hình thành cây có lá thật: cả hai quá trình cùng diễn ra.

Ở thực vật, mô phân sinh ngọn giúp cây cao lên, mô phân sinh bên giúp thân gỗ dày ra. Hormone cần nhớ theo việc làm, không học thuộc định nghĩa dài:

  • Auxin: kéo dài tế bào, ưu thế ngọn; bấm ngọn thì chồi bên phát vì bớt auxin từ ngọn.
  • Gibberellin: kéo dài thân, phá ngủ hạt.
  • Cytokinin: kích thích phân chia tế bào, làm chậm già ở một số mô.
  • Ethylene: thúc chín quả, rụng lá.
  • Abscisic acid: giữ hạt và chồi ngủ, góp phần đóng khí khổng khi hạn.

Động vật sinh trưởng có giới hạn ở thú (đến tuổi thì dừng), nhiều loài khác lớn cả đời nhưng chậm dần. Biến thái hoàn toàn có dạng trung gian khác hẳn con trưởng thành (sâu, nhộng, bướm). Biến thái không hoàn toàn chỉ lột xác, con non đã na ná con trưởng thành (châu chấu). Bài 19 khái quát; bài 20 sinh trưởng thực vật; bài 21 thực hành bấm ngọn, tỉa cành, kích thích tố và tính tuổi cây; bài 22 sinh trưởng động vật; bài 23 thực hành quan sát biến thái.

Chương 4. Sinh sản

Sinh sản làm tăng số cá thể, truyền vật chất di truyền. Vô tính cho đời con giống hệt cơ thể mẹ nếu không có đột biến: phân đôi, nảy chồi, sinh sản sinh dưỡng, trinh sản ở một số động vật. Hữu tính có giảm phân và thụ tinh, đời con đa dạng hơn.

Thực vật có hoa sinh sản vô tính bằng củ, thân bò, giâm, chiết, ghép, nuôi cấy mô. Sinh sản hữu tính gồm thụ phấn rồi thụ tinh, tạo hạt và quả. Động vật thụ tinh ngoài (nhiều loài đẻ trứng trong nước) hoặc thụ tinh trong. Bài 24 khái quát; bài 25 sinh sản thực vật; bài 26 thực hành nhân giống vô tính và thụ phấn; bài 27 sinh sản động vật.

Chương 5. Các quá trình liên hệ với nhau, và nghề liên quan

Cơ thể không chạy năm chương riêng. Quang hợp tạo glucose và O2 cho hô hấp. Hô hấp tạo ATP để rễ hút khoáng. Khoáng (nhất là nitrogen và magnesium) lại cần để xây chlorophyll. Thiếu nước thì khí khổng đóng, quang hợp giảm, cây ngừng lớn. Cảm ứng giúp cây hướng lá về sáng, tức là tối ưu chính quá trình trao đổi chất. Sinh sản chỉ xảy ra khi sinh trưởng đạt một mức.

Bài 28 hệ thống mối quan hệ đó. Bài 29 mở sang nghề: trồng trọt và bảo vệ thực vật, chăn nuôi, y – dược, xét nghiệm, môi trường, công nghệ sinh học. Em chọn nghề không cần quyết định ở lớp 11, nhưng nên thấy kiến thức cơ thể dùng được ngoài phòng thi: đọc nhãn phân, hiểu vì sao vaccine cần liều nhắc, biết vì sao bấm ngọn cà chua cho nhiều cành.

Cách ôn lý thuyết cho đỡ sót ý

Việc nên làm Việc hay mất điểm
Viết lại hai phương trình và đếm nguyên tử Đổi chiều quang hợp với hô hấp, hoặc quên ánh sáng ở quang hợp
Một bảng hướng động / ứng động, kèm một ví dụ Gọi lá xấu hổ cụp là hướng động
Năm hormone, mỗi chất một việc Học thuộc câu chữ mà không gắn với bấm ngọn, chín quả, hạn
Phân biệt miễn dịch đặc hiệu và không đặc hiệu Nói vaccine thuộc miễn dịch không đặc hiệu
Vẽ một mũi tên nối các quá trình ở bài 28 Học từng bài như năm môn khác nhau

Khi trả lời tự luận, em viết theo ba tầng: khái niệm một câu, ví dụ một câu, ý nghĩa với cơ thể một câu. Cách này đủ dài cho câu 1 đến 2 điểm và không lan sang kiến thức lớp khác.

Câu hỏi thường gặp

Sinh học 11 Kết nối tri thức học những chương nào?

Năm chương: trao đổi chất và chuyển hóa năng lượng; cảm ứng; sinh trưởng và phát triển; sinh sản; mối quan hệ giữa các quá trình sinh lí và một số ngành nghề.

Phương trình quang hợp lớp 11 viết thế nào?

6CO2 + 6H2O → C6H12O6 + 6O2, cần ánh sáng và lục lạp. Mỗi vế có 6 carbon, 12 hydrogen và 18 oxygen.

Hướng động khác ứng động chỗ nào?

Hướng động là sinh trưởng phụ thuộc hướng kích thích, như thân hướng sáng. Ứng động không phụ thuộc hướng, như lá xấu hổ cụp khi chạm hay khí khổng đóng mở.

Miễn dịch đặc hiệu có gì riêng?

Miễn dịch đặc hiệu nhắm đúng một kháng nguyên và có trí nhớ. Vaccine dựa trên trí nhớ này. Da, niêm mạc, thực bào thuộc miễn dịch không đặc hiệu.

Vì sao nói cơ thể là hệ thống mở?

Vì cơ thể liên tục nhận vật chất và năng lượng từ môi trường rồi thải sản phẩm dư, đồng thời các quá trình bên trong điều chỉnh lẫn nhau để giữ cân bằng nội môi.