Trả lời nhanh
Mưa xuân (II) là bài thơ bảy chữ của Nguyễn Bính (1918–1966), nhà thơ của “hồn quê”. Bài thơ vẽ cảnh một buổi chiều mưa xuân dịu nhẹ: mưa bụi, tơ nhện, cỏ cây đâm chồi, rồi đến cảnh người đi hội, tiếng trống làng. Qua đó nhà thơ bày tỏ tình yêu thiết tha với thiên nhiên và cuộc sống quê hương. Nghệ thuật nổi bật là hình ảnh giản dị, từ láy gợi cảm và nhân hoá.
1. Tác giả Nguyễn Bính trong vài ý chính
Nguyễn Bính tên khai sinh là Nguyễn Trọng Bính, “Nguyễn Bính” là bút danh. Ông sinh năm 1918, mất ngày 20/1/1966. Quê ông ở làng Thiện Vịnh (xã Đồng Đội, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định cũ).
- Ông làm thơ từ rất sớm, nổi tiếng trong phong trào Thơ mới với những bài như Tương tư, Lỡ bước sang ngang, Chân quê, Mưa xuân.
- Giai đoạn 1945–1954, ông tham gia kháng chiến chống Pháp ở miền Nam. Sau năm 1954, ông tập kết ra Bắc, làm báo và hoạt động văn nghệ.
- Phong cách thơ: đậm chất quê, từ đề tài, hình ảnh đến giọng điệu đều gần ca dao, dân ca. Thơ ông mộc mạc mà tha thiết, vì vậy dễ đi vào lòng người.
Mẹo nhớ: nhắc đến Nguyễn Bính là nhớ ngay ba chữ “chân – quê – tình”: tình quê, hồn quê, duyên quê.
2. Thông tin chung về bài thơ Mưa xuân (II)
| Mục | Nội dung cần nhớ |
|---|---|
| Tác giả | Nguyễn Bính |
| Thể thơ | Thơ bảy chữ |
| Xuất xứ | Thường được ghi là in năm 1958, có trong các tuyển tập thơ Nguyễn Bính |
| Phương thức biểu đạt | Biểu cảm, kết hợp miêu tả |
| Đề tài | Cảnh sắc và không khí mùa xuân ở làng quê |
| Chương trình | Ngữ văn 8, bộ Chân trời sáng tạo |
Em cần phân biệt: Mưa xuân (bài quen thuộc có câu “Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay”) là một bài khác, thiên về chuyện tình của cô gái quê. Còn Mưa xuân (II) thiên về bức tranh thiên nhiên và không khí ngày xuân. Nếu đề hỏi về văn bản trong sách lớp 8, em phải bám đúng bài (II).
3. Bố cục và mạch cảm xúc
Có thể chia bài thơ thành hai phần theo mạch cảm xúc:
- Phần 1 – Thiên nhiên khi xuân đến: chiều ấm, gió thoảng, mưa bụi, tơ nhện, cây cối, bờ cỏ, bờ dâu.
- Phần 2 – Con người và đời sống: không khí hội xuân, tiếng trống làng, những hình ảnh quen thuộc của làng quê (cò trắng, đoàn tàu) hoà vào nhịp sống mới.
Mạch thơ đi từ cảnh đến người, từ bên ngoài đến bên trong. Nhà thơ không nói to “tôi yêu mùa xuân”, mà để tình cảm thấm qua từng nét vẽ.
4. Phân tích nội dung chính
4.1. Bức tranh thiên nhiên mưa xuân
Thời điểm là “chiều ấm”, mưa không ào ạt mà là mưa bụi, hạt thưa và mỏng. Những chi tiết như gió thoảng, tơ nhện giăng sợi trắng, mù sương lơ lửng tạo nên không gian mờ ảo, nhẹ như một bức tranh thuỷ mặc.
Cây cối cũng thức dậy: cành cam quýt đan nối nhau, lá đón mưa, bờ cỏ nở hoa, bờ dâu lên lá non. Toàn là cảnh vật rất bình thường của miền quê Bắc Bộ, nhưng qua mắt thi sĩ, chúng đều chan chứa sự sống.
4.2. Không khí xuân và hồn người
Sang phần sau, thiên nhiên không đứng riêng nữa mà gắn với con người. Tiếng trống làng, người đi hội, những cánh cò, đoàn tàu… cho thấy mùa xuân làm cả cảnh lẫn người đều rộn ràng hơn. Cái ẩm ướt của mưa xuân như phủ lên cả làng quê, làm tâm hồn người đọc dịu lại.
4.3. Giá trị nội dung
Bài thơ ca ngợi vẻ đẹp tinh tế của mùa xuân quê hương và sức sống đang trỗi dậy của muôn loài. Nó cũng cho thấy tâm hồn nhạy cảm, gắn bó máu thịt với làng quê của Nguyễn Bính.
5. Đặc sắc nghệ thuật
- Hình ảnh thơ giản dị, gần gũi: mưa bụi, tơ nhện, cỏ dại, bờ dâu… ai ở quê cũng từng thấy.
- Từ láy gợi hình, gợi cảm: những từ như “tà tà”, “thưa thưa” làm nhịp thơ chậm lại, khiến mưa xuân như nhẹ hơn, e ấp hơn.
- Nhân hoá và cách nói ví von: cây cỏ như biết “đón”, biết “nở”, biết mặc áo mới theo xuân.
- Giọng điệu mộc mạc, mềm mại: gần với lời ăn tiếng nói và ca dao, đúng chất quê của Nguyễn Bính.
Cách viết khi phân tích nghệ thuật: nêu biện pháp, chỉ ra từ/câu cụ thể, rồi nói tác dụng. Ví dụ: “Từ láy ‘thưa thưa’ gợi hạt mưa bụi mỏng, rời rạc, làm cảnh xuân thêm nhẹ nhàng, tinh tế.”
6. Lỗi sai thường gặp khi làm bài
- Nhầm Mưa xuân và Mưa xuân (II), rồi đem chi tiết bài này gán cho bài kia.
- Viết “Nguyễn Trọng Bính” như tên tác giả bài thơ. Đúng ra Nguyễn Bính là bút danh quen dùng; nên ghi “Nguyễn Bính”.
- Chỉ kể lại cảnh vật mà không nêu cảm xúc của nhà thơ.
- Nói “nhân hoá” chung chung mà không dẫn chứng từ thơ.
- Chép nguyên văn bài thơ dài vào bài làm. Chỉ nên trích những từ, cụm từ cần phân tích.
7. Luyện tập
Câu 1. Nêu hai nét chính trong phong cách thơ Nguyễn Bính.
Gợi ý: (1) Hồn thơ đậm chất quê, gần ca dao, dân ca; (2) giọng điệu mộc mạc, tình cảm tha thiết với truyền thống và con người thôn quê.
Câu 2. Tìm một từ láy trong bài và phân tích tác dụng.
Gợi ý: chọn “thưa thưa” hoặc “tà tà”. Nêu: từ gợi nhịp mưa, nhịp gió chậm rãi, nhẹ nhàng; làm cảnh xuân mềm mại, dịu dàng và thể hiện sự cảm nhận tinh tế của nhà thơ.
Câu 3. Viết 3–4 câu nêu cảm nhận của em về bức tranh mưa xuân.
Gợi ý: mở bằng ấn tượng chung (nhẹ, mờ, tươi mới); nêu một hình ảnh cụ thể; nêu cảm xúc của tác giả; kết bằng suy nghĩ của em về vẻ đẹp quê hương.
8. Tài liệu học cùng bài này
- Soạn bài Mưa xuân (II) – Chân trời sáng tạo Ngữ văn 8
- Tóm tắt Mưa xuân (II)
- Bố cục bài Mưa xuân (II)
- Phân tích Mưa xuân (II)
- Tác giả – tác phẩm Ngữ văn 8 Chân trời sáng tạo
Câu hỏi thường gặp
Mưa xuân (II) của ai sáng tác?
Bài thơ của Nguyễn Bính (1918–1966), nhà thơ nổi tiếng với phong cách thơ đậm chất quê, thuộc dòng Thơ mới và tiếp tục sáng tác trong thời kỳ kháng chiến.
Mưa xuân (II) viết theo thể thơ nào?
Theo kiến thức trong chương trình Ngữ văn 8, bài thơ được học theo thể thơ bảy chữ, phương thức biểu đạt chính là biểu cảm kết hợp miêu tả.
Nội dung chính của bài thơ Mưa xuân (II) là gì?
Bài thơ miêu tả cảnh mưa xuân và sự thức dậy của cây cỏ, rồi không khí hội xuân ở làng quê. Qua đó thể hiện tình yêu thiên nhiên và gắn bó với quê hương của nhà thơ.
Mưa xuân và Mưa xuân (II) có phải một bài không?
Không. Đây là hai bài thơ khác nhau của Nguyễn Bính. Khi làm bài lớp 8, em cần dùng đúng chi tiết của Mưa xuân (II) trong sách, tránh nhầm với bài còn lại.