Nghị luận về một vấn đề xã hội lớp 11: dàn ý và bài viết

Trả lời nhanh

Bài nghị luận về một vấn đề xã hội ở Ngữ văn 11 Kết nối tri thức đòi hỏi một vấn đề có thật, các luận điểm đi theo một mạch, lí lẽ kèm bằng chứng, một đoạn nhìn từ phía khác, và một kết luận nói được ý nghĩa với cách sống của người viết. Bài tham khảo về cư dân của cùng một hành tinh mở bằng lối gián tiếp, lần lượt xét nguồn gốc chung, lịch sử cận hiện đại, quan hệ giữa các quốc gia, rồi mới nêu hệ lụy của toàn cầu hóa. Phần thực hành bên dưới là dàn ý và một bài viết mới về việc đặt điện thoại xuống khi đang ở với người thân.

Bài viết cần đạt những gì

Đề không bắt em chép lại một văn bản có sẵn. Em tự chọn một vấn đề đang tác động tới cách ứng xử hằng ngày, theo hướng hình thành lối sống tích cực. Vấn đề nên hẹp đến mức viết được trong một bài, ví dụ cách dùng mạng ở nhà, thói quen tiêu dùng đồ một lần, hay cách lớp đối xử với bạn học chậm. Đề quá rộng như “cả xã hội hiện đại” dễ thành câu chung, không có bằng chứng.

Bốn yêu cầu cần hiện ra trên bài nộp. Một, vấn đề được nêu sớm, dù bằng một tình huống hay bằng một câu trực tiếp. Hai, mỗi luận điểm có câu chủ đề, có lí lẽ và có ít nhất một bằng chứng em kiểm được: một việc em đã làm, một quy ước của lớp, một con số em ghi rõ nguồn. Ba, có một đoạn không cùng chiều với luận điểm chính, để bài không thành lời cổ vũ một phía. Bốn, kết bài nói người đọc, trước hết là người viết, nên làm gì sau khi đã hiểu vấn đề.

Giọng văn là giọng bàn, không phải giọng kể chuyện dài. Yếu tố tự sự chỉ nên là một tình huống ngắn để dẫn chứng. Em không cần khẩu hiệu ở cuối mỗi đoạn.

Sơ đồ ba phần bài nghị luận: mở bài nêu vấn đề, thân bài gồm lí lẽ và bằng chứng, kết bài nêu ý nghĩa và việc làm
Hình 1. Thân bài cần một đoạn nhìn từ phía khác, không chỉ toàn lí lẽ cùng chiều.

Bài tham khảo triển khai theo hướng nào

Bài đọc thêm lấy nhan đề theo hình ảnh người sống chung một hành tinh. Mở bài không định nghĩa xã hội học. Nó dẫn người đọc vào ý “mình thuộc về một tập thể lớn hơn gia đình và lớp học”, nên đây là cách nêu vấn đề gián tiếp.

Thân bài đi từ hẹp tới rộng theo năm bước lập luận. Bước đầu nhìn loài người như có nguồn gốc chung, để cái “chung” không chỉ là khẩu hiệu. Bước sau nhìn lịch sử cận đại và hiện đại: tiếp xúc, di cư, chiến tranh và hợp tác làm các xã hội không còn kín. Bước thứ ba hạ xuống đời sống đang diễn ra, với những vật dụng và sự kiện nhiều nước cùng biết, để chứng minh sự kết nối không còn là chuyện sách. Bước thứ tư đổi chiều: kết nối và toàn cầu hóa kéo theo co cụm, bất bình đẳng và những phản ứng cực đoan. Bước cuối hỏi mỗi người làm gì khi đã thấy cả mặt được lẫn mặt mất.

Kết bài mượn một câu của người khác thay cho lời tự kết. Cách ấy chỉ ổn khi câu trích thật, có nguồn, và đúng với điều bài vừa chứng minh. Trích cho có vẻ sâu, rồi không liên hệ lại luận điểm, là lỗi.

Ba câu hỏi sau bài đọc

Câu 1 hỏi vấn đề chính và ý nghĩa. Vấn đề là ý thức mình là cư dân của cùng một hành tinh, nên cách sống có trách nhiệm với người khác và với môi trường sống. Ý nghĩa nằm ở chỗ chọn hợp tác và tiết chế, thay vì coi mọi chuyện ngoài cửa nhà là việc của người khác. Em có thể đối chiếu lời giải ngắn ở trang nêu vấn đề chính và ý nghĩa.

Câu 2 hỏi hệ thống luận điểm. Năm luận điểm đúng thứ tự là: nguồn gốc chung của loài người; thực tiễn lịch sử cận đại và hiện đại; quan hệ giữa các quốc gia, dân tộc, với bằng chứng từ đồ vật và sự kiện nhiều người cùng biết; góc nhìn khác về hệ lụy của toàn cầu hóa; việc mỗi người cần làm sau khi đã nhận ra vấn đề. Đảo bước “góc nhìn khác” lên trước bằng chứng thì mạch từ hẹp tới rộng bị gãy. Xem thêm cách tách luận điểm ở trang xác định hệ thống luận điểm.

Câu 3 hỏi độ thuyết phục của bằng chứng. Bằng chứng tốt khi nó đúng loại với luận điểm: muốn nói sự kết nối đời thường thì một đồ vật nhiều nước cùng dùng thuyết phục hơn một tính từ khen. Bằng chứng yếu khi lấy một việc nhỏ để kết luận cả nhân loại, hoặc khi chỉ viết “ai cũng biết” mà không nói biết cái gì. Đoạn nhìn hệ lụy làm bài đỡ một chiều, nhưng đoạn ấy cũng cần ví dụ, không chỉ lời cảnh báo. Tiêu chí này được gợi tiếp ở trang mức độ thuyết phục của bằng chứng.

Dàn ý cho đề bài lối sống tích cực

Đề em có thể viết: bàn về thói quen cầm điện thoại trong bữa ăn và lúc đang nói chuyện với người thân. Đây là vấn đề hẹp, có việc làm được ngay, đúng hướng lối sống tích cực mà không biến thành bài giảng đạo đức.

Mở bài. Kể rất ngắn một bữa cơm bốn người, bốn màn hình. Câu cuối của đoạn nêu vấn đề: biết đặt máy xuống cũng là một cách sống, không phải chuyện ghét công nghệ.

Thân bài. Luận điểm 1: hoàn cảnh làm nảy sinh thói quen, gồm thông báo liên tục và nỗi sợ bỏ lỡ một tin. Luận điểm 2: hệ quả đo được trong nhà, như ngủ muộn, bài tập bị cắt, câu nói của ông bà bị ngắt. Luận điểm 3: lối sống tích cực là quy ước cụ thể, ví dụ bữa tối không màn hình, tắt thông báo không cần, mỗi ngày một việc không dùng máy. Luận điểm 4, góc nhìn khác: với người học từ xa, người thân ở tỉnh khác, hoặc người cần máy để làm việc, điện thoại là cầu nối. Phê phán thói quen vô độ không được thành lời chê người phải dùng máy.

Kết bài. Nhắc lại rằng vấn đề không phải chiếc máy mà là ai đang sắp xếp thời gian của ai. Chốt một việc em sẽ giữ trong bảy ngày tới. Không mở thêm vấn đề mới như mạng xã hội của người lớn hay luật pháp.

Bài viết: Đặt điện thoại xuống

Bữa tối hôm qua ở nhà em có đủ bốn người, nhưng chỉ có một người ngẩng lên khi được hỏi món canh mặn hay nhạt. Ba người kia gật mà mắt vẫn ở trên màn hình. Không ai to tiếng. Ấy vậy bữa ăn vẫn giống một phòng chờ, mỗi người đợi một tin của riêng mình. Nhìn cảnh ấy, em nghĩ việc đặt điện thoại xuống, dù chỉ trong lúc đang có mặt người thân, là một lối sống cần tập, chứ không phải một lời kêu gọi suông chống lại công nghệ.

Thói quen không sinh ra từ tính xấu. Điện thoại báo tin nhắn, bài tập, lịch trực, cả những mục em không định xem. Máy rung một cái là tay đã cầm. Nhiều bạn trong lớp, kể cả em, mở máy vì sợ trả lời muộn thì bị hiểu là thờ ơ. Nỗi sợ ấy có thật. Nó biến một công cụ liên lạc thành việc phải canh. Khi việc canh kéo dài cả bữa cơm, người ngồi cạnh trở thành hình nền.

Hệ quả không cần thống kê lớn cũng thấy trong một tuần. Em ngủ muộn hơn khoảng bốn mươi phút vào những tối vừa học vừa mở mục khác, vì mỗi lần chuyển ứng dụng là mạch bài bị cắt. Bài toán lẽ ra xong trong hai mươi phút bị ngắt thành bốn đoạn, và sáng hôm sau em không nhớ mình đã làm đến đâu. Ở nhà, bà em kể một chuyện chợ rồi dừng giữa chừng vì không ai “ừ”. Bà không trách. Chính sự không trách ấy làm em thấy mình đã lấy đi phần việc dễ nhất: lắng nghe hết một câu. Bằng chứng này nhỏ, nhưng nó đúng loại với luận điểm. Vấn đề em bàn là sinh hoạt trong nhà, thì việc trong nhà thuyết phục hơn một câu “giới trẻ bây giờ hỏng cả”.

Sống tích cực, với riêng việc này, không có nghĩa vứt máy. Em và gia đình thử một quy ước hẹp: từ lúc xới cơm đến lúc dọn bát, máy để ở phòng khác, trừ cuộc gọi của ông ngoại đang ở quê. Thông báo của trò chơi và của các mục bán hàng thì tắt. Mỗi chiều em giữ ba mươi phút tưới cây ở ban công, không mang máy theo. Ba việc ấy đo được. Tuần đầu em phá quy ước một lần vì nhóm lớp hỏi bài gấp; em trả lời xong rồi để máy lại, không mở thêm mục khác. Quy ước sống được là quy ước có ngoại lệ đã nói trước, không phải quy ước để rồi bỏ hẳn khi bận.

Cũng cần nói chiều ngược lại, kẻo bài biến thành lời lên án người nào còn cầm máy. Bạn em học chương trình kết hợp, buổi tối phải vào lớp trực tuyến. Chị họ làm thêm, nhận ca qua tin nhắn. Với họ, điện thoại là chỗ làm việc và là đường về với người thân ở xa. Bảo những người ấy “bỏ máy đi cho lành” là lẫn thói quen giải trí vô độ với nhu cầu thật. Điều em phản đối là mở máy khi không có việc, rồi để việc ấy nuốt thời gian của người đang ngồi cùng. Điều em không phản đối là dùng máy để học, để làm và để giữ liên lạc khi khoảng cách không cho gặp mặt.

Bàn chuyện điện thoại trong bữa ăn, rốt cuộc là bàn xem ai làm chủ quỹ thời gian của mình. Em không kết luận rằng cả xã hội sẽ khá lên nếu mọi nhà cùng tắt máy. Em chỉ kết luận một việc vừa sức: trong bảy ngày tới, bữa tối ở nhà em không có màn hình, trừ cuộc gọi đã hẹn. Nếu giữ được, em có thêm một bằng chứng cho chính mình. Nếu không giữ được, em sẽ biết luận điểm hay mà thói quen chưa theo, và bài viết này vẫn còn một đoạn phải sửa bằng việc làm, không phải bằng tính từ.

Sửa bài trước khi nộp

Em đọc lại bốn yêu cầu, không đọc để khen câu văn. Gạch luận điểm nào không có bằng chứng. Cắt câu nào nói xấu cả một lứa tuổi. Kiểm đoạn góc nhìn khác: nếu đoạn ấy chỉ là “tuy nhiên mọi thứ đều có hai mặt” rồi hết, em phải thêm một nhóm người cụ thể và một lí do họ cần công cụ ấy. Xem các đoạn có nhảy cóc không. Bài mẫu trên đi từ cảnh bữa ăn, sang nguyên nhân, sang hệ quả, sang quy ước, sang ngoại lệ, rồi mới kết. Em có thể đổi thứ tự nếu mạch mới chặt hơn, nhưng không được bỏ đoạn ngoại lệ.

Câu trích, nếu dùng, phải nguyên văn, đặt trong ngoặc kép và ghi người nói. Bài mẫu cố ý không trích, vì chưa có câu nào cần mượn. Thêm một câu tiếng Anh cho “có vẻ hiện đại” không làm luận điểm chắc hơn. Cuối cùng em sửa chính tả và xóa các từ đệm không mang thông tin. Bài khoảng sáu trăm đến tám trăm chữ là đủ cho đề này. Dài hơn mà không thêm bằng chứng thì chỉ loãng.

Câu hỏi thường gặp

Nghị luận về một vấn đề xã hội lớp 11 cần mấy ý bắt buộc?

Cần nêu vấn đề, triển khai luận điểm bằng lí lẽ và bằng chứng, có một góc nhìn khác, rồi rút ý nghĩa đối với cách sống của người viết.

Mở bài gián tiếp khác mở bài trực tiếp thế nào?

Mở gián tiếp đi từ một tình huống rồi mới gọi tên vấn đề. Mở trực tiếp nêu vấn đề ngay câu đầu. Cả hai đều phải ngắn và cho biết bài sẽ bàn việc gì.

Vì sao bài cần một đoạn không cùng chiều?

Để tránh kết luận tuyệt đối. Đoạn ấy phải có ví dụ, ví dụ người cần điện thoại để học hoặc làm việc, chứ không chỉ một câu “mọi thứ đều có hai mặt”.

Bằng chứng thế nào thì đủ thuyết phục?

Bằng chứng phải cùng loại với luận điểm, nói rõ việc gì và kiểm được. Một chuyện trong bữa ăn phù hợp hơn một câu kết tội cả giới trẻ.

Bài viết có được kể chuyện dài không?

Chỉ nên một tình huống ngắn để dẫn chứng. Phần còn lại là luận điểm, lí lẽ và việc em đề xuất làm được.