Bài tập cuối tuần Tiếng Việt lớp 3 Cánh diều tuần 10

Trả lời nhanh

Bài tập cuối tuần Tiếng Việt lớp 3 Cánh diều tuần 10 xoay quanh bài đọc Bảy sắc cầu vồng, từ chỉ đặc điểm, từ có nghĩa giống nhau và một đoạn văn ngắn. Các màu tranh nhau xem màu nào đẹp nhất; khi mưa tạnh, chúng nắm tay trên cầu vồng và rực rỡ hơn lúc đứng riêng. Nếu phiếu trắc nghiệm không có chữ “đẹp nhất” mà chỉ có “đặc sắc nhất”, đó là cách diễn đạt lại của vở bài tập. Đề nào in cả hai thì chọn “đẹp nhất”, vì sát câu trong bài đọc.

Tuần 10 cần ôn những gì

Tuần 10, Tiếng Việt 3 tập 1, sách Cánh diều, trọng tâm là đọc hiểu một truyện ngắn về họa sĩ và các màu trên bảng pha màu, rồi dùng vốn từ của truyện để luyện từ. Em không cần học thuộc cả bài đọc. Em cần kể được ba chặng, trả lời được các màu cãi nhau việc gì, và viết được một đoạn có câu mở, ba câu giữa, câu kết.

Phần Việc em làm Dấu hiệu làm đúng
Đọc hiểu Chia bài thành ba chặng, trả lời câu hỏi Nêu được việc cãi nhau và cảnh nắm tay
Từ chỉ đặc điểm Tìm tính từ chỉ màu, chỉ dáng, chỉ tính Không lấy nhầm danh từ như “họa sĩ”, “cầu vồng”
Từ đồng nghĩa Ghép cặp hoặc tìm từ lạc nhóm Hai từ thay được cho nhau trong câu
Viết Một đoạn kể kỉ niệm đáng nhớ Có thời gian, việc đã xảy ra, cảm xúc

Chính tả trong tuần thường ôn chữ viết rõ, sạch, và các tiếng có âm dễ lẫn. Khi viết đoạn, em đọc lại một lượt để bắt lỗi “rực rỡ”, “cầu vồng”, “tranh cãi”, đừng viết thiếu dấu.

Trả lời câu hỏi bài đọc

Ba ô nối tiếp: mưa bất ngờ, các màu tranh cãi, rồi nắm tay nhau trên cầu vồng
Hình 1. Ba chặng của bài đọc: mưa đến, các màu tranh nhau, rồi cùng đứng trên cầu vồng.

Ba chặng. Chặng mưa bất ngờ là đoạn đầu: họa sĩ đang vẽ phong cảnh đồng quê thì trời đổ mưa, phải lấy ô che bức tranh còn dở. Chặng các màu tranh cãi bắt đầu từ lúc màu bị ướt, càu nhàu, rồi mỗi màu khoe vẻ riêng: xanh lục nhận mình là màu cây cỏ, xanh lam nhận bầu trời, xanh dương nhận biển và sông, tím nhắc vẻ đằm của hoa vi-ô-lét. Chặng nắm tay nhau là đoạn cuối: mưa tạnh, mặt trời hiện, cầu vồng vắt trên cánh đồng lúa, các màu cùng sáng và đẹp hơn rất nhiều so với lúc mỗi màu đứng một mình.

Các màu tranh cãi về điều gì? Về việc màu nào đẹp nhất. Câu này có hai cách in trong phiếu. Bài đọc dùng chữ “đẹp nhất”. Một số câu trắc nghiệm trong vở bài tập không đưa chữ ấy, chỉ có “mạnh mẽ nhất”, “mềm yếu nhất” và “đặc sắc nhất”, rồi đáp án khoanh “đặc sắc nhất” vì đó là ý gần nhất trong ba ý ấy. Hai lời giải không cùng một danh sách phương án. Em đọc đề trên giấy: có “đẹp nhất” thì khoanh “đẹp nhất”; chỉ có “đặc sắc nhất” như phương án sát nghĩa thì khoanh phương án đó. Đừng khoanh “mạnh mẽ” hay “yếu”, truyện không so sức.

Trong tranh cầu vồng, các màu hiện ra sao? Chúng cùng bừng sáng, nắm tay nhau, rực rỡ hơn lúc mỗi màu đứng riêng. Phương án “xấu đi” hoặc “vẫn y như cũ” đều trái đoạn cuối.

Câu chuyện muốn nói gì? Ý sát đoạn cuối nhất là sự hài hòa tạo nên cái đẹp: mỗi màu có cái hay, nhưng đẹp thực sự khi đứng cạnh nhau. “Ai cũng có ích” và “đoàn kết thì thành việc” cũng nói được một phần, vì không màu nào bị loại khỏi cầu vồng. Nếu đề ghi “chọn ý em thích”, em được chọn, nhưng phải viết một câu lí do. Lí do chắc nhất là câu kết: ở trong vòng tay chung, các màu đẹp hơn cả ngàn lần lúc đứng một mình.

Từ chỉ màu sắc. Những từ rõ ràng là đỏ, da cam, vàng, xanh lục, xanh lam, xanh dương, tím. “Vàng rực” ở cánh đồng lúa cũng là sắc vàng. “Cầu vồng” là tên cả dải bảy màu; một số đáp án liệt kê thêm, em chỉ thêm khi đề hỏi rộng mọi từ gắn với sắc, không thêm khi đề đòi từ chỉ đúng một màu.

Gắn màu với lời khoe, để khỏi lẫn: xanh lục với cây cỏ, xanh lam với bầu trời, xanh dương với biển, tím với hoa. Họa sĩ vẽ đồng quê, có cánh đồng lúa vàng ở đoạn cuối. Những chi tiết này đủ cho câu hỏi “màu nào là sắc của đại dương” hay “màu nào đằm như hoa”.

Luyện từ chỉ đặc điểm và từ đồng nghĩa

Từ chỉ đặc điểm trả lời cho “như thế nào”: màu sắc, hình dáng, tính tình, mức độ. Trong câu “Họa sĩ đang say sưa vẽ”, say sưa chỉ cách vẽ, là từ chỉ đặc điểm của hoạt động. “Họa sĩ” chỉ người, không phải đặc điểm.

Bài làm mẫu 1. Tìm từ chỉ đặc điểm trong câu: “Khu vườn sau mưa còn ướt, lá non mướt và hương sen thoang thoảng.”

Đáp án: ướt, non, mướt, thoang thoảng. “Vườn”, “lá”, “hương”, “sen” là sự vật, không gạch.

Bài làm mẫu 2. Gạch từ không cùng nhóm nghĩa.

  • a) rộng, bao la, mênh mông, chật chội, bát ngát. Từ lạc: chật chội. Các từ kia đều chỉ sự rộng.
  • b) mong chờ, mong đợi, mong mỏi, mong manh, trông mong. Từ lạc: mong manh. Từ này chỉ sự yếu, dễ vỡ, không phải sự trông đợi.
  • c) trong veo, trong vắt, trong xanh, trong suốt, bàn tán. Từ lạc: bàn tán. Bốn từ đầu chỉ nước hoặc không khí trong.

Bài làm mẫu 3. Điền từ chỉ màu.

  • Những cánh hoa vàng rung rinh trong nắng.
  • Đóa hồng đỏ trông như một đốm lửa nhỏ.
  • Hoa bưởi trắng thoảng hương dịu.

Em được đổi sắc nếu hợp loài hoa em chọn, miễn là đó là từ chỉ màu, không điền “thơm” hay “đẹp” vào chỗ đang hỏi màu.

Viết đoạn kể một kỉ niệm

Đề viết cuối tuần thường là kể một kỉ niệm đáng nhớ, khoảng 5 đến 7 câu. Em viết theo bốn nhịp: khi nào và ở đâu, chuyện bắt đầu ra sao, việc đáng nhớ là gì, em thấy thế nào. Không cần lời hay. Cần có một việc cụ thể, một chi tiết nhìn thấy được.

Đoạn mẫu, em có thể học cách dựng chứ đừng chép nguyên nếu thầy cô giao bài riêng:

Chiều thứ sáu tuần trước, tổ em được ở lại lớp vẽ báo tường. Trời đang mưa, cửa kính mờ hơi nước. Bạn Lan giữ tờ giấy, bạn Minh pha màu xanh cho hình cái ô. Em phụ trách cầu vồng. Lúc đầu em tô mỗi vạch một màu thật đậm, nhìn chói và rời. Cô bảo các màu phải nhường chỗ cho nhau. Em tô lại, nhạt hơn ở chỗ hai màu chạm. Tờ báo trông dịu hẳn. Tan học, em vẫn còn nhớ mùi màu và tiếng mưa trên mái tôn.

Đoạn có thời gian (chiều thứ sáu), nơi (lớp), việc (vẽ báo tường), một lần sửa (tô lại chỗ hai màu chạm), và cảm xúc nằm trong câu nhớ. Em thay chi tiết bằng kỉ niệm của chính mình: một trận bóng, một lần bị lạc ở chợ, một buổi cắm trại. Đừng kể lại truyện các màu cãi nhau, vì đó là bài đọc, không phải kỉ niệm của em.

Bài tự luyện thêm

Câu 1. Trong câu “Bầu trời sau mưa trong và cao, cầu vồng cong mềm trên cánh đồng”, những từ nào chỉ đặc điểm?

Đáp án: trong, cao, cong, mềm.

Câu 2. Cặp nào là hai từ gần nghĩa? A. rực rỡ – chói lọi. B. rực rỡ – ướt át. C. càu nhàu – reo vui.

Đáp án: A. “Ướt át” chỉ trạng thái dính nước. “Càu nhàu” trái với “reo vui”.

Câu 3. Vì sao không khoanh “các màu trở nên xấu hơn”?

Đáp án: Đoạn cuối nói các màu bừng sáng và đẹp hơn lúc đứng riêng, không nói chúng xấu đi.

Làm phiếu 15 đến 20 phút là vừa sức cuối tuần. Em để năm phút cuối đọc lại dấu câu và những từ chỉ màu, vì đó là chỗ dễ mất điểm nhất.

Câu hỏi thường gặp

Các màu trong Bảy sắc cầu vồng tranh cãi điều gì?

Chúng tranh nhau xem màu nào đẹp nhất. Nếu đề trắc nghiệm không có chữ “đẹp nhất” mà chỉ có “đặc sắc nhất” trong các lựa chọn, khoanh ý đó vì sát nghĩa nhất.

Bài đọc chia thành mấy chặng?

Ba chặng: mưa bất ngờ khi họa sĩ đang vẽ, các màu tranh cãi sau khi bị ướt, và cảnh nắm tay nhau trên cầu vồng lúc mưa tạnh.

Từ chỉ màu sắc trong bài gồm những từ nào?

Đỏ, da cam, vàng, xanh lục, xanh lam, xanh dương, tím. Xanh lục gắn với cây cỏ, xanh lam với bầu trời, xanh dương với biển, tím với hoa.

Câu chuyện nói điều gì?

Ý sát đoạn cuối nhất là sự hài hòa tạo nên cái đẹp: các màu rực rỡ hơn khi đứng cạnh nhau. Em vẫn có thể chọn ý đoàn kết nếu đề cho chọn và em viết được lí do.

Đoạn văn cuối tuần nên viết những gì?

Một kỉ niệm của chính em: thời gian, nơi chốn, việc đã xảy ra, một chi tiết nhìn thấy và cảm xúc. Không kể lại nguyên truyện các màu tranh cãi.