Trả lời nhanh
Loại chữ cổ nhất của người Trung Quốc là chữ giáp cốt (giáp cốt văn), được khắc trên mai rùa và xương thú từ thời nhà Thương. Chữ kim văn khắc trên đồ đồng như chuông, đỉnh, xuất hiện sau, phổ biến thời Chu. Vì vậy trong hai phương án “giáp cốt” và “kim văn”, em chọn giáp cốt. Đây là nguồn tư liệu quý để nghiên cứu xã hội Trung Quốc thời cổ đại.
Chữ giáp cốt là gì?
“Giáp” là mai rùa, “cốt” là xương. Người thời Thương dùng mai rùa và xương thú (thường là xương bả vai trâu bò) để bói toán. Họ khắc lên đó những câu hỏi về mùa màng, chiến tranh, mưa nắng, rồi hơ nóng cho nứt, dựa vào đường nứt để đoán điềm. Những dòng chữ khắc lại chính là chữ giáp cốt.
- Niên đại: khoảng thế kỉ XIV – XI TCN, thời nhà Thương.
- Phát hiện: các mảnh giáp cốt được nhận ra và nghiên cứu mạnh vào cuối thế kỉ XIX, trong đó nhiều mảnh ở Ân Khư (thuộc tỉnh Hà Nam ngày nay).
- Đặc điểm: chữ có nét mảnh, góc cạnh vì khắc bằng vật nhọn lên chất liệu cứng; nhiều chữ vẫn mang hình dạng tượng hình (hình mặt trời, mặt trăng, con người).
Giáp cốt văn mang ý nghĩa gì với lịch sử?
Chữ giáp cốt cho thấy ngay từ thời Thương, người Trung Quốc đã có một hệ thống chữ viết tương đối hoàn chỉnh, gồm hàng nghìn chữ, trong đó nhiều chữ nay vẫn đọc và nối được với chữ Hán hiện đại. Qua nội dung khắc, ta biết về tín ngưỡng thờ tổ tiên, chế độ vua, hoạt động nông nghiệp, thiên văn của thời kì này.
Các lối chữ của Trung Quốc qua các thời kì
| Loại chữ | Chất liệu / thời kì | Đặc điểm |
|---|---|---|
| Giáp cốt | Mai rùa, xương thú; thời Thương | Cổ nhất; nét khắc mảnh, nhiều chữ tượng hình |
| Kim văn | Đồ đồng (chuông, đỉnh); thời Thương – Chu | Đúc hoặc khắc trên đồng, nét dày hơn |
| Chữ triện | Thống nhất thời Tần | Quy chuẩn hoá chữ viết trong cả nước |
| Chữ lệ | Thời Tần – Hán | Nét vuông hơn, viết nhanh hơn |
| Chữ khải | Các triều đại sau | Dạng chữ Hán chuẩn, ổn định nhiều thế kỉ |
Vì sao không chọn kim văn?
Kim văn có nghĩa là “chữ trên kim loại” (đồng). Việc đúc đồ đồng có chữ cần trình độ kĩ thuật cao và phổ biến mạnh hơn ở thời Chu, nên theo trình tự thời gian đây là loại chữ xuất hiện sau giáp cốt. Cần lưu ý đồ đồng có chữ cũng có từ thời Thương, nhưng khi nói “cổ nhất” và có hệ thống phong phú thì sách giáo khoa nhấn mạnh chữ giáp cốt.
Mẹo nhớ
Hãy nhớ “Thương – giáp cốt, Chu – kim văn, Tần – triện”. Ba cặp ghép này giúp em nhớ thứ tự thời gian: giáp cốt trước, kim văn sau, rồi chữ triện thống nhất thời Tần.
Lỗi sai thường gặp
- Nhầm giáp cốt khắc trên đồng. Giáp cốt khắc trên mai rùa, xương thú.
- Nhầm thời Tần với thời Thương vì cả hai đều nổi tiếng. Thương sớm hơn Tần rất nhiều, Tần thống nhất vào năm 221 TCN.
- Cho rằng chữ Hán ngày nay hoàn toàn khác giáp cốt. Thực ra chúng có liên hệ phát triển liên tục.
Bài luyện tập
Câu 1. Chữ giáp cốt được khắc trên những chất liệu nào?
Đáp án: Mai rùa và xương thú.
Câu 2. Chữ giáp cốt ra đời vào thời nhà nào?
Đáp án: Nhà Thương.
Câu 3. Chữ nào được thống nhất trong cả nước Trung Quốc thời nhà Tần?
Đáp án: Chữ triện (lối chữ được quy chuẩn hoá thời Tần).
Câu hỏi thường gặp
Loại chữ cổ nhất của người Trung Quốc là chữ gì?
Là chữ giáp cốt, khắc trên mai rùa và xương thú vào thời nhà Thương, khoảng thế kỉ XIV – XI TCN.
Chữ giáp cốt dùng để làm gì?
Chữ giáp cốt dùng ghi lại các câu hỏi và kết quả bói toán của vua và quý tộc nhà Thương về mùa màng, chiến tranh, thời tiết.
Kim văn khác giáp cốt thế nào?
Kim văn là chữ trên đồ đồng như chuông, đỉnh, phổ biến thời Chu; giáp cốt khắc trên mai rùa, xương thú và sớm hơn.
Ai thống nhất chữ viết ở Trung Quốc?
Nhà Tần sau khi thống nhất đất nước năm 221 TCN đã quy chuẩn hoá chữ viết, lối chữ triện được dùng chung.