Trả lời nhanh
Thiết bị bắn tốc độ dùng trong giao thông gồm ba phần chính: bộ phát và thu tín hiệu (sóng radar hoặc tia laser), bộ xử lý để tính tốc độ từ tín hiệu phản xạ về, và màn hình hiển thị kết quả. Nhiều thiết bị còn kèm camera để ghi hình xe vi phạm. Tốc độ xe tính theo công thức v = s : t.
Thiết bị bắn tốc độ hoạt động thế nào?
Người ta hướng thiết bị về phía xe đang chạy. Bộ phát gửi đi một tín hiệu (sóng vô tuyến hoặc xung laser), tín hiệu gặp xe rồi phản xạ trở lại bộ thu.
Từ tín hiệu thu được, bộ xử lý xác định xe đã dịch chuyển bao xa trong khoảng thời gian bao lâu. Chia quãng đường cho thời gian, ta được tốc độ của xe và máy hiển thị ngay trên màn hình.
Các bộ phận chính
| Bộ phận | Nhiệm vụ |
|---|---|
| Bộ phát tín hiệu | Phát sóng radar hoặc xung laser về phía xe |
| Bộ thu tín hiệu | Nhận tín hiệu phản xạ từ xe |
| Bộ xử lý | So sánh tín hiệu phát và thu, tính ra tốc độ |
| Màn hình hiển thị | Cho biết tốc độ (thường theo km/h) |
| Camera (nếu có) | Chụp ảnh, ghi biển số xe làm bằng chứng |
Hai loại thường gặp: radar và laser
- Súng bắn tốc độ radar: dùng sóng vô tuyến. Tốc độ được suy ra từ sự thay đổi tần số của sóng phản xạ (hiệu ứng Doppler) – xe chạy càng nhanh thì tần số thay đổi càng nhiều.
- Súng bắn tốc độ laser: dùng xung ánh sáng rất hẹp. Máy đo khoảng cách tới xe nhiều lần liên tiếp rồi lấy độ thay đổi khoảng cách chia cho thời gian giữa các lần đo.
Mẹo nhớ: phát – thu – tính – hiện. Thiếu một bước thì không ra được tốc độ.
Ví dụ tính tốc độ (số liệu tự đặt)
Máy laser đo lần đầu thấy xe cách 150 m, sau 0,5 s đo lần hai thấy xe cách 140 m (xe đang lại gần).
- Quãng đường xe đi: s = 150 − 140 = 10 m.
- Tốc độ: v = 10 : 0,5 = 20 m/s.
- Đổi đơn vị: 20 × 3,6 = 72 km/h.
Lỗi sai thường gặp
- Quên đổi đơn vị: 1 m/s = 3,6 km/h, đừng nhân hay chia nhầm.
- Lấy khoảng cách đo một lần để tính tốc độ. Phải có hai lần đo (hoặc độ thay đổi tần số) mới ra tốc độ.
- Nghĩ máy đo “tốc độ trung bình cả quãng đường”. Thực ra súng bắn tốc độ cho tốc độ tại thời điểm đo, gần với tốc độ tức thời.
- Bắn chéo góc lớn so với hướng xe chạy sẽ cho số đo nhỏ hơn thực tế, vì máy chỉ “thấy” thành phần chuyển động dọc theo tia.
Bài luyện tập
- Một xe máy chạy 54 km/h. Hỏi sau 2 s xe đi được bao nhiêu mét?
Đáp án: 54 km/h = 15 m/s; s = 15 × 2 = 30 m. - Đoạn đường giới hạn 60 km/h. Máy bắn tốc độ hiện xe đi 18 m/s. Xe có vượt tốc độ không?
Đáp án: 18 × 3,6 = 64,8 km/h > 60 km/h nên xe vượt tốc độ. - Kể tên các bộ phận chính của thiết bị bắn tốc độ.
Đáp án: bộ phát – thu tín hiệu, bộ xử lý, màn hình hiển thị (và camera nếu có).
Vì sao phải đo tốc độ xe?
Chạy quá tốc độ làm quãng đường phanh dài hơn, dễ gây tai nạn nghiêm trọng. Thiết bị bắn tốc độ giúp lực lượng chức năng phát hiện, xử lý vi phạm khách quan, từ đó nhắc người lái tuân thủ biển báo.
Câu hỏi thường gặp
Thiết bị bắn tốc độ sử dụng trong giao thông gồm những bộ phận nào?
Gồm bộ phát và thu tín hiệu (radar hoặc laser), bộ xử lý tính tốc độ và màn hình hiển thị; nhiều máy có thêm camera ghi hình xe.
Súng bắn tốc độ tính tốc độ xe bằng cách nào?
Máy phát tín hiệu tới xe rồi thu tín hiệu phản xạ. Từ quãng đường xe dịch chuyển trong một khoảng thời gian (hoặc độ lệch tần số), máy tính ra tốc độ theo v = s : t.
Radar và laser khác nhau ở điểm nào?
Radar dùng sóng vô tuyến và dựa vào sự thay đổi tần số (hiệu ứng Doppler); laser dùng xung ánh sáng hẹp và đo khoảng cách nhiều lần để suy ra tốc độ.
Đổi 72 km/h sang m/s như thế nào?
Chia cho 3,6: 72 : 3,6 = 20 m/s.