Trả lời nhanh
Phương pháp khoanh vùng vùng phân bố cho biết phạm vi (khu vực địa lí) mà một loài hoặc quần thể xuất hiện, tức diện tích vùng sống của nó. Từ đó có thể ước tính mật độ, kích thước quần thể, so sánh với điều kiện môi trường và đề ra biện pháp bảo tồn hoặc quản lí phù hợp.
Phương pháp khoanh vùng là gì?
Khoanh vùng là cách nhà sinh thái học vẽ ranh giới trên bản đồ hoặc ngoài thực địa, bao quanh toàn bộ những nơi có sinh vật cần nghiên cứu xuất hiện. Ranh giới này gọi là vùng phân bố (khu phân bố) của loài hay quần thể.
Sau khi có ranh giới, người nghiên cứu đo diện tích vùng, rồi mới đếm hoặc lấy mẫu trong vùng đó để có thêm số liệu về số lượng cá thể.
Lưu ý: đề gốc của câu hỏi này chỉ còn phần đầu, nên trang trình bày theo hướng giải thích đầy đủ các ý mà cụm từ “cho biết…” thường hỏi. Em đối chiếu với phương án trong đề của mình để chọn ý đúng.
Khoanh vùng vùng phân bố cho biết những gì?
- Phạm vi phân bố: loài có mặt ở khu vực nào (rừng, vùng ven biển, một hòn đảo, một lưu vực sông…).
- Diện tích vùng sống: vùng rộng hay hẹp; loài phân bố rộng thường thích nghi tốt hơn loài chỉ có ở một vùng nhỏ.
- Mật độ cá thể: lấy số cá thể đếm được chia cho diện tích (hoặc thể tích) đã khoanh.
- Kích thước quần thể (ước tính): mật độ nhân với diện tích toàn vùng phân bố, với điều kiện cá thể phân bố tương đối đều.
- Mối liên hệ với môi trường: so sánh bản đồ phân bố với nhiệt độ, độ ẩm, loại đất, nguồn thức ăn để biết nhân tố sinh thái nào giới hạn loài.
- Mức độ nguy cấp: vùng phân bố thu hẹp hoặc bị chia cắt là dấu hiệu loài đang suy giảm, cần bảo vệ.
Vì sao khoanh vùng lại cho biết được những điều đó?
Mỗi loài chỉ sống được trong khoảng giới hạn sinh thái nhất định. Nơi nào nằm ngoài giới hạn thì loài không xuất hiện, nên ranh giới phân bố phản ánh trực tiếp điều kiện môi trường mà loài chịu được.
Ngoài ra, ta không thể đếm hết từng cá thể trong cả vùng rộng. Khi đã biết diện tích vùng, chỉ cần đếm ở vài ô mẫu rồi suy ra toàn vùng, vừa nhanh vừa tiết kiệm.
Ví dụ minh hoạ (số liệu tự đặt)
Một loài cây gỗ phân bố trong khu rừng được khoanh rộng 50 ha. Em đặt 5 ô mẫu, mỗi ô 0,2 ha (tổng 1 ha) và đếm được 36 cây.
- Mật độ = 36 cây : 1 ha = 36 cây/ha.
- Kích thước quần thể ước tính = 36 × 50 = 1 800 cây.
Con số này chỉ là ước lượng; kết quả sát thực tế khi các ô mẫu đặt ngẫu nhiên và đủ nhiều.
Phân biệt với các phương pháp khác
| Phương pháp | Mục đích chính |
|---|---|
| Khoanh vùng phân bố | Xác định phạm vi, diện tích vùng sống của loài |
| Ô tiêu chuẩn (ô mẫu) | Đếm cá thể trong diện tích nhỏ để tính mật độ |
| Đánh dấu – bắt lại | Ước tính số lượng động vật di chuyển nhiều |
Lỗi sai thường gặp
- Cho rằng khoanh vùng cho biết ngay số lượng chính xác cá thể. Thực ra nó chỉ cho biết phạm vi; muốn có số lượng phải đếm hoặc lấy mẫu thêm.
- Nhân mật độ với diện tích khi cá thể tập trung thành đám, làm kết quả lệch nhiều.
- Nhầm vùng phân bố với kích thước quần thể: vùng rộng chưa chắc nhiều cá thể.
Mẹo nhớ
Nhớ ngắn gọn: “Khoanh vùng – biết Ở ĐÂU và RỘNG BAO NHIÊU”; còn “đếm mẫu – biết BAO NHIÊU CON”.
Bài luyện tập
- Vùng phân bố của một loài chim rộng 400 ha, mật độ trung bình 0,5 cá thể/ha. Ước tính số cá thể?
Đáp án: 400 × 0,5 = 200 cá thể. - Hai loài A và B cùng có 1 000 cá thể; A sống trên 100 ha, B sống trên 500 ha. Loài nào có mật độ cao hơn?
Đáp án: A có 10 cá thể/ha, B có 2 cá thể/ha, nên A cao hơn. - Vì sao vùng phân bố thu hẹp là dấu hiệu cảnh báo?
Đáp án: môi trường sống bị mất hoặc chia cắt, nguồn sống giảm, quần thể dễ suy giảm số lượng và nguy cơ tuyệt chủng tăng.
Câu hỏi thường gặp
Khoanh vùng phân bố cho biết điều gì về loài?
Cho biết phạm vi và diện tích nơi loài xuất hiện, từ đó kết hợp với số liệu đếm để tính mật độ, ước tính kích thước quần thể và đánh giá nhu cầu bảo tồn.
Khoanh vùng có cho biết chính xác số lượng cá thể không?
Không. Phương pháp này chỉ xác định ranh giới và diện tích. Muốn biết số lượng phải đếm trong ô mẫu hoặc dùng phương pháp đánh dấu – bắt lại rồi ước tính.
Công thức ước tính kích thước quần thể từ vùng phân bố?
Kích thước ước tính = mật độ trung bình × diện tích vùng phân bố, áp dụng khi cá thể phân bố tương đối đều trong vùng.