Vở bài tập Tiếng Việt lớp 3 trang 22, 23 Bài 10: Con đường đến trường

Trả lời nhanh

Vở bài tập tiếng việt lớp 3 trang 22 23 làm Bài 10 Con đường đến trường, Kết nối tri thức, tập 1. Bài 1 ghi các từ chỉ đặc điểm: vắt vẻo, mấp mô, lúp xúp, phảng phất. Bài 5 điền lần lượt đỏ rực, râm ran, xanh um, nhộn nhịp, sớm. Bài 6 là một phiếu đọc sách về ngôi trường, em điền theo bài em vừa đọc.

Bài 1: từ ngữ chỉ đặc điểm của con đường

Bài đọc kể con đường em đi học. Đề chỉ hỏi những tiếng nói về đặc điểm, tức đường trông thế nào, mặt đường ra sao, cây hai bên và mùi trên đường. Không chép cả câu kể sự việc.

Bốn cụm cần ghi:

  • vắt vẻo: đường nhỏ, như treo men theo sườn, nhìn đã thấy cheo leo;
  • mấp mô: mặt đường lồi lõm, không phẳng;
  • lúp xúp: cây cỏ dại thấp và dày hai bên;
  • phảng phất: mùi lạc tiên chín chỉ thoảng nhẹ, không nồng.

Cả bốn tiếng đều trả lời cho câu “như thế nào”, nên đứng vào nhóm từ chỉ đặc điểm. “Con đường”, “mặt đường”, “cây cỏ”, “lạc tiên” là sự vật. Nếu em chép nguyên cụm “hai bên đường lúp xúp những cây cỏ dại” thì vẫn được, miễn là em chỉ ra tiếng mang đặc điểm là lúp xúp.

Cách kiểm tra nhanh: bỏ tiếng định khoanh, câu mất ý tả. “Mặt đường mấp mô” bỏ “mấp mô” thì chỉ còn tên vật, không còn hình ảnh. Đó là dấu hiệu từ chỉ đặc điểm.

Bài 2 và bài 3: tìm thêm từ rồi đặt câu

Bài 2 mở rộng ba nhóm. Từ dưới đây là gợi ý để em chọn, không phải danh sách duy nhất. Em chỉ giữ từ mình hiểu và viết đúng chính tả.

Nhóm Từ chỉ đặc điểm có thể thêm
Màu sắc đỏ au, xanh biếc, vàng tươi, trắng tinh, tím than, nâu sẫm
Âm thanh rộn rã, vi vu, ầm ĩ, róc rách, lanh canh, thủ thỉ
Hương vị ngọt lịm, thanh mát, thoang thoảng, đậm đà, chua thanh, nồng

Một từ có thể hợp hai nhóm nếu nghĩa đổi. “Nồng” khi nói mùi là hương vị; khi nói nắng thì là mức độ. Trong bài này em xếp “nồng” vào hương vị.

Bài 3 yêu cầu hai hoặc ba câu, mỗi câu dùng một từ vừa tìm. Câu phải có đủ ý, không viết mỗi từ một dòng. Mẫu:

  • Chiếc khăn mới của em đỏ au dưới nắng sớm.
  • Suối sau vườn chảy róc rách suốt buổi trưa.
  • Nải chuối chín ngọt lịm, cả nhà ăn không hết.

Em đổi từ và đổi cảnh cho khác mẫu. Tránh câu cụt kiểu “Hoa đỏ au.” Thêm ai, cái gì, ở đâu thì câu đủ ý lớp 3.

Bài 4: từ ngữ tả một bông hoa

Khi tả một bông hoa, em tách ba hướng nhìn, mỗi hướng vài từ. Không cần dùng hết trong một câu.

  • Hình dáng: tròn trịa, nhỏ xíu, cánh mỏng, búp còn khép, xoè rộng.
  • Màu sắc: hồng phớt, đỏ tươi, vàng nhạt, trắng muốt, tím nhạt.
  • Mùi hương: thoang thoảng, ngào ngạt, dịu, thanh, nồng nàn.

Câu ghép một từ mỗi hướng: “Bông hoa hồng nhỏ xíu, cánh hồng phớt, hương thoang thoảng theo gió.” Câu này đủ hình dáng, màu và mùi. Em có thể thêm vị trí, ví dụ trên bậu cửa sổ, nhưng vị trí không thay cho đặc điểm của chính bông hoa.

Lỗi hay gặp là chỉ viết “đẹp, xinh, dễ thương”. Ba tiếng ấy khen chung, chưa cho người đọc thấy hoa màu gì, cánh ra sao, mùi thế nào. Đề hỏi từ chỉ đặc điểm dùng khi miêu tả, nên ưu tiên từ gắn với mắt và mũi.

Bài 5: chọn từ điền vào đoạn văn

Năm từ cho sẵn: xanh um, nhộn nhịp, đỏ rực, râm ran, sớm. Mỗi từ vào một chỗ. Em đọc ý của chỗ trống rồi mới điền, không điền tuần tự theo thứ tự trong ngoặc.

Ý của chỗ trống Từ chọn Vì sao
Hoa phượng nở đỏ rực Phượng mùa hè nở đỏ, từ “rực” hợp với nhiều bông cùng lúc
Tiếng ve kêu râm ran Ve kêu dày, kéo dài, không phải một tiếng đơn
Tán lá sấu xanh um Lá dày, xanh kín tán
Khung cảnh gần trường nhộn nhịp Học sinh, xe, lời chào làm cảnh đông và vui
Lời em bé nhờ mẹ đón sớm Em bé xin mẹ đến đón cho sớm

Thứ tự trong đoạn là đỏ rực, râm ran, xanh um, nhộn nhịp, sớm. Đọc lại cả đoạn sau khi điền: hoa thì nhìn bằng mắt, ve thì nghe bằng tai, lá thì nhìn màu, cổng trường thì cảm thấy không khí, câu của em bé thì nói về thời gian. Năm từ vừa khít năm ý, không còn từ thừa.

Nếu đảo “xanh um” vào chỗ hoa phượng, câu mất đúng sự thật. Nếu để “sớm” cạnh tiếng ve, từ không hợp với âm thanh. Em thử đọc thành tiếng: chỗ nào vấp là chỗ điền lệch.

Bài 6: phiếu đọc sách

Đề cho hai cách. Cách một: đọc văn bản Ngôi trường mới. Cách hai: tìm một bài thơ hoặc bài văn khác về nhà trường rồi điền phiếu. Không có một phiếu duy nhất cho cả lớp. Dưới đây là mẫu khi em chọn Ngôi trường mới của Ngô Quân Miện. Em đổi ngày đọc và câu em thích cho đúng bài trên bàn mình.

Mục trong phiếu Mẫu
Ngày đọc ghi ngày em thực sự đọc, ví dụ 08/10
Tên bài Ngôi trường mới
Tác giả Ngô Quân Miện
Chi tiết em thích Cả đến chiếc thước kẻ, chiếc bút chì sao cũng đáng yêu đến thế!
Cách em tìm được bài Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 3
Mức yêu thích 5 sao, hoặc tô số sao đề cho

Câu em thích nên chép đúng một câu trong bài, có dấu cuối câu. Câu trên hợp vì nhân vật thấy cả đồ dùng học tập cũng trở nên đáng quý khi ngôi trường mới hiện ra. Nếu em đọc bài khác, đừng giữ tên Ngôi trường mới. Phiếu sai tên bài là sai nội dung, dù các mục còn lại có đủ.

Khi viết “cách em tìm được văn bản”, em ghi thật: sách giáo khoa, thư viện lớp, hoặc bài cô đọc. Không cần câu dài.

Các bài vở bài tập cạnh Bài 10

Cùng tập 1, các bài liền trước và liền sau giúp em ôn từ ngữ, câu kể và phiếu đọc:

Trước khi chép vào vở, em đọc lại bài 1 và bài 5 thành tiếng. Bài 1 đủ bốn ý tả đường. Bài 5 đủ năm từ đúng chỗ. Bài 6 có tên bài, tên tác giả và một câu em thích. Ba điểm ấy là phần cô dễ kiểm tra nhất trên trang 22 và trang 23.

Câu hỏi thường gặp

Bài 1 trang 22 tìm được những từ nào?

vắt vẻo, mấp mô, lúp xúp và phảng phất. Đó là các từ chỉ đặc điểm của con đường trong bài đọc.

Bài 5 điền từ theo thứ tự nào?

đỏ rực, râm ran, xanh um, nhộn nhịp, sớm.

vắt vẻo nghĩa là gì?

Chỉ con đường nhỏ, cheo leo, như treo men theo sườn.

Phiếu đọc sách bài 6 gồm những mục nào?

Ngày đọc, tên bài, tác giả, câu em thích, cách tìm ra bài và mức yêu thích.

Từ chỉ đặc điểm khác từ chỉ sự vật thế nào?

Từ chỉ sự vật gọi tên đồ vật, cây, con vật. Từ chỉ đặc điểm nói vật ấy như thế nào, màu gì, tiếng ra sao, mùi vị thế nào.