Trả lời nhanh
Kiểu bài nghị luận về một tác phẩm văn học (truyện thơ) hoặc một tác phẩm nghệ thuật (bài hát) dùng lí lẽ và bằng chứng để làm rõ giá trị nội dung và nét đặc sắc nghệ thuật. Mở bài giới thiệu tác phẩm, thân bài triển khai từng luận điểm, kết bài khẳng định ý nghĩa. Với ngữ liệu Trê Cóc, bài mẫu tách nội dung truyện và tư tưởng ngụ ngôn. Với Bài ca hi vọng của Văn Ký, bài mẫu đan nội dung và nghệ thuật trong cùng một luận điểm.
Tri thức về kiểu bài
Ở Ngữ văn 11 Chân trời sáng tạo, tập một, bài viết này nằm sau những truyện thơ và những cách đọc tác phẩm có lời. Đề không bắt em kể lại toàn bộ tác phẩm. Em chọn vài nét thực sự đặc sắc, rồi chứng minh bằng chi tiết trong tác phẩm.
Về nội dung, bài cần nêu được vấn đề: tác phẩm hay ở điều gì, tư tưởng nào, hình tượng nào. Về hình thức, bài vẫn là một văn bản nghị luận: luận điểm rõ, lí lẽ đi trước hoặc đi kèm bằng chứng, câu chuyển ý để người đọc không bị lạc. Bằng chứng phải lấy từ tác phẩm em đang bàn, không lấy một câu khen chung của người khác thay cho chi tiết.

Bố cục ba phần:
- Mở bài nêu tên tác phẩm, tác giả, thể loại và định hướng (em sẽ bàn điều gì).
- Thân bài xếp các luận điểm theo một trật tự. Có thể một luận điểm cho nội dung, một luận điểm cho nghệ thuật. Cũng có thể mỗi luận điểm vừa nói ý nghĩa vừa nói cách thể hiện, nếu hình ảnh ấy không tách nổi hai mặt.
- Kết bài chốt giá trị của tác phẩm với người đọc hoặc người nghe, tránh mở lại một ý chưa chứng minh.
Truyện thơ và bài hát khác chất liệu nhưng cùng một yêu cầu. Với truyện thơ, bằng chứng thường là tình huống, lời thoại, cách kết thúc, thể thơ. Với bài hát, bằng chứng là hình ảnh trong ca từ, hướng giai điệu, hoàn cảnh sáng tác. Em chỉ nhắc một hình ảnh hoặc một câu rất ngắn để làm dẫn chứng, không chép cả bài hát vào bài làm.
Ngữ liệu trang 76: truyện thơ Trê Cóc
Văn bản mẫu bàn giá trị nội dung và nghệ thuật của truyện thơ dân gian Trê Cóc. Em đọc mẫu để học cách viết, không học thuộc nguyên bài. Ba câu hỏi trong sách có thể xem thêm ở các trang riêng: câu 1 trang 76, câu 2 trang 76, câu 3 trang 76.
Vấn đề và các luận điểm
Vấn đề nghị luận là giá trị của truyện thơ Trê Cóc. Người viết triển khai hai luận điểm. Luận điểm trước kể lại mạch chuyện và chỉ ra xung đột. Luận điểm sau mới nói điều tác giả dân gian muốn gửi, cùng cách xây dựng hình tượng. Trình tự ấy hợp lí vì người đọc cần biết chuyện gì xảy ra rồi mới xét chuyện ấy có nghĩa gì. Đảo ngược sẽ thành nhận xét không có đất đứng.
Lí lẽ và bằng chứng
Trê Cóc kể chuyện loài vật theo kiểu ngụ ngôn. Cóc sinh nòng nọc thì bị Trê cướp về nuôi. Cóc đi kiện. Trê nhờ Lý Ngạnh lo lót, Cóc lại bị giam. Ếch chỉ Nhái Bén. Nhái Bén khuyên Cóc chờ đến lúc nòng nọc đứt đuôi, đàn con sẽ tự tìm về mẹ. Cuối cùng Cóc dắt con đi kêu oan, Trê phải nhận tội. Đó là bằng chứng cho luận điểm về nội dung cốt truyện: một vụ kiện oan, có kẻ mạnh, có kẻ trung gian ăn hối lộ, có người yếu phải biết chờ thời.
Từ các tình tiết ấy, luận điểm thứ hai mới đứng được. Lí lẽ: tác giả không định viết một bài tự nhiên về cá và cóc. Bằng chứng là cả làng loài vật hành xử như người đi cửa quan: đơn kiện, lễ vật, giam cầm, rồi phiên xử. Hình thức nghệ thuật phục vụ lí lẽ này là phúng dụ. Mỗi con vật một kiểu người. Trê là kẻ cướp công, Lý Ngạnh là tay sai trong cửa quyền, Nhái Bén là người tỉnh, Cóc là kẻ bị hại nhưng không bỏ. Vì bằng chứng nằm trong chính các tình tiết, bài mẫu thuyết phục hơn một bài chỉ viết “tác phẩm phê phán xã hội phong kiến” mà không chỉ ra cửa quan nào, lễ vật nào.
Bài học về cách viết
Em rút được ba việc. Một, với truyện thơ hãy bám cốt truyện, nhân vật và tình huống, đừng nhảy vào ý nghĩa khi người đọc chưa thấy chuyện. Hai, khi đã có chuyện, hãy tách hoặc ít nhất là gọi tên phần nội dung và phần nghệ thuật, để “ngụ ngôn” không thành một tính từ khen suông. Ba, mỗi luận điểm chỉ nên một việc; bằng chứng nào không phục vụ việc ấy thì bỏ, dù chi tiết ấy có hay.
Ngữ liệu trang 78: Bài ca hi vọng của Văn Ký
Ngữ liệu thứ hai là một bài nghị luận về bài hát Bài ca hi vọng của nhạc sĩ Văn Ký, xoay quanh hình ảnh những cánh chim chào đón tương lai. Ba câu hỏi tương ứng: câu 1 trang 78, câu 2 trang 78, câu 3 trang 78.
Vấn đề của bài mẫu là ý nghĩa hình ảnh cánh chim trong bài hát, không phải tiểu sử dài của nhạc sĩ. Luận điểm thứ nhất theo dõi sự xuất hiện của hình ảnh ấy. Luận điểm thứ hai nói ý nghĩa và lời nhắn mà hình ảnh mang theo. Trình tự vẫn đi từ “có gì trong tác phẩm” đến “điều đó khiến người nghe nghĩ gì”. Với một bài hát, cách đi này tự nhiên hơn cách chia đôi cứng “phần nội dung” rồi “phần nghệ thuật”, vì giai điệu và lời cùng tạo một hình ảnh.
Vì thế câu 2 trong sách mới hỏi: bài viết có tách riêng hai luận điểm nội dung và nghệ thuật hay viết kết hợp? Câu trả lời sát bài mẫu là kết hợp. Ở mỗi luận điểm, người viết vừa nói cánh chim nghĩa là gì, vừa nói cách giai điệu và lời làm cho hình ảnh ấy hiện ra. Em không bị trừ điểm nếu chọn cách tách, miễn là cả hai phần đều có bằng chứng. Bài mẫu chỉ cho thấy cách kết hợp cũng đạt yêu cầu của kiểu bài.
Câu 3 hỏi bài viết đã đáp ứng yêu cầu nghị luận về một bài hát chưa. Đã đáp ứng ở những điểm cốt lõi: có vấn đề, có luận điểm theo thứ tự, có lí lẽ, có bằng chứng từ chính bài hát, có kết luận về giá trị với người nghe. Bài hát ra đời trong những năm kháng chiến chống Mỹ; hoàn cảnh ấy là một bằng chứng lịch sử, nhưng không thay thế được hình ảnh trong tác phẩm. Em học được cách này khi viết về một bài hát khác: một câu về hoàn cảnh, rồi ở lại với hình ảnh và giai điệu, không biến bài văn thành tiểu sử nhạc sĩ.
Quy trình viết bài của em
Đề ở cuối mục yêu cầu viết một bài nghị luận về giá trị đặc sắc của một truyện thơ hoặc một bài hát em yêu thích. Sách gợi ý Lục Vân Tiên và Ngư tiều y thuật vấn đáp của Nguyễn Đình Chiểu, truyện thơ Vượt biển của người Tày, Nùng, hoặc bài hát Em ơi, Hà Nội phố. Em được chọn tác phẩm khác, miễn là em có tác phẩm trong tay để lấy bằng chứng.
Bước chuẩn bị gồm ba câu em tự trả lời trước khi viết. Em viết để chia sẻ một đánh giá của mình, không để kể tuồng. Người đọc là thầy cô và bạn học, nên cần dẫn chứng chứ không cần kể lại từ đầu đến cuối. Tư liệu lấy từ sách giáo khoa, từ chính tác phẩm và từ một nguồn giới thiệu ngắn về tác giả; em ghi lại chi tiết, không ghi lại cả một bài văn có sẵn.
Bước tìm ý: lập hai cột. Cột nội dung ghi một ý em thật sự thấy, kèm một tình tiết. Cột nghệ thuật ghi một cách viết em gọi tên được, kèm chỗ trong tác phẩm làm em thấy cách ấy. Nếu một ô trống bằng chứng, bỏ ý đó.
Bước viết: triển khai dàn ý thành đoạn văn. Mỗi luận điểm một đoạn hoặc một cụm đoạn. Câu đầu đoạn nêu luận điểm. Các câu sau là lí lẽ rồi bằng chứng. Câu cuối đoạn có thể chốt, nhưng đừng chốt bằng “từ đó ta thấy tác phẩm vô cùng đặc sắc”.
Bài viết tham khảo về Lục Vân Tiên
Truyện thơ Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu là một trong những truyện thơ Nôm được người miền Nam nhớ lâu nhất, không phải vì câu chuyện lạ, mà vì nhân vật sống theo một lẽ rất dễ nhận ra. Bài viết này chỉ bàn hai nét: lí tưởng hành hiệp của Vân Tiên và cách thể lục bát kể chuyện khiến lí tưởng ấy gần với lời ăn tiếng nói hằng ngày.
Về nội dung, Vân Tiên không phải người tài để chờ khoa bảng công nhận rồi mới làm việc nghĩa. Chàng gặp đám cướp Phong Lai đang hại dân thì đánh, gặp Kiều Nguyệt Nga trong cơn hoạn nạn thì cứu, không kèo nài ơn. Nguyễn Đình Chiểu đặt chàng vào những tình huống phải chọn ngay: cứu hay bỏ đi. Chọn cứu, Vân Tiên trở thành người của cộng đồng chứ không phải người của một giấc mộng công danh. Khi truyện để chàng mù, nghèo, lưu lạc rồi vẫn không đổi tính, tác giả muốn nói lẽ phải không gắn với việc còn mắt, còn chức. Nguyệt Nga trong truyện giữ lòng thủy chung với Vân Tiên. Chi tiết chàng đánh giặc Ô Qua cũng theo hướng ấy: tài năng cá nhân được kể để bảo vệ nước, không để phô diễn. Người đọc miền Nam thuộc truyện một phần vì thấy ở Vân Tiên và Nguyệt Nga mẫu người thủy chung, hiếu thảo, dám ra tay, những điều làng xã vẫn dùng để dạy nhau.
Về nghệ thuật, sức lan tỏa của truyện nằm ở thể lục bát và lời thơ ít cầu kì. Câu sáu tám nhịp đều, dễ nhớ, dễ ngâm, nên truyện đi được từ sách ra đời sống. Nguyễn Đình Chiểu không xây một thế giới ước lệ quá xa tiếng nói miền Nam. Nhân vật chính diện và phản diện phân minh, tình tiết nối nhau như cách kể của truyện dân gian, người nghe không cần chú giải vẫn theo được ai tốt, ai xấu. Cách ấy có người chê là đơn giản. Với một truyện thơ viết cho số đông, sự phân minh lại là lựa chọn: đạo lí được nói thẳng, không giấu trong một tầng biểu tượng khó. Hình ảnh Vân Tiên giữa đường gặp việc bất bình vì thế vừa là tình tiết vừa là cách xây dựng nhân vật. Tác giả không tả dài tâm lí; hành động cứu người tự nó là tính cách.
Hai nét trên gặp nhau ở một chỗ. Nội dung đề cao người dám làm điều phải, nghệ thuật kể bằng thể thơ và lời quen thuộc để điều phải ấy không chỉ nằm trong sách kẻ sĩ. Lục Vân Tiên vì vậy vừa là tác phẩm của một nhà nho mù yêu nước, vừa là truyện thơ dân chúng mang đi. Với em, giá trị còn lại của truyện không phải câu “chính nghĩa thắng gian tà” nói suông, mà là cách Nguyễn Đình Chiểu bắt nhân vật chọn ngay trong tình huống cụ thể, rồi kể lựa chọn ấy bằng một thể thơ ai cũng thuộc được nhịp.
Em có thể đối chiếu các bài lân cận trong cùng cụm: Thị Kính nuôi con cho Thị Mầu, giới thiệu một truyện thơ hoặc một bài hát và ôn tập trang 82. Khi viết về bài hát, hãy mượn cách của ngữ liệu Văn Ký: một hình ảnh chủ, hai luận điểm, bằng chứng ngắn, không chép lời.
Câu hỏi thường gặp
Nghị luận về truyện thơ hoặc bài hát cần làm rõ điều gì?
Một số nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật, mỗi ý có lí lẽ và bằng chứng lấy từ chính tác phẩm, bố cục đủ mở bài, thân bài, kết bài.
Bài viết mẫu về Trê Cóc triển khai những luận điểm nào?
Luận điểm về cốt truyện và luận điểm về tư tưởng cùng cách xây dựng hình tượng ngụ ngôn. Hai ý đi từ chuyện kể sang ý nghĩa, nên trình tự hợp lí.
Bài về Bài ca hi vọng tách nội dung và nghệ thuật hay viết chung?
Bài mẫu viết chung trong từng luận điểm: hình ảnh cánh chim xuất hiện thế nào, rồi ý nghĩa và lời nhắn của hình ảnh ấy gắn với cách phổ nhạc.
Em được chọn tác phẩm nào để viết?
Truyện thơ đã học hoặc em biết, chẳng hạn Lục Vân Tiên, Ngư tiều y thuật vấn đáp, Vượt biển; hoặc một bài hát em hiểu hoàn cảnh ra đời và hình ảnh chính, không chép nguyên cả bài hát.
Độ dài bài viết lớp 11 khoảng bao nhiêu?
Khoảng một trang rưỡi đến hai trang giấy thi là đủ nếu có hai luận điểm, mỗi luận điểm một bằng chứng cụ thể và một câu kết không lặp mở bài.