Trả lời nhanh
Ngữ văn 8 Kết nối tri thức có hai học kì, mười bài học. Học kì 1 đi từ sử thi, thơ cổ điển, lời sông núi đến tiếng cười trào phúng. Học kì 2 đi từ chân dung đời sống, tình cảm chiến tranh, nghề viết, rồi sang môi trường và thói quen đọc sách. Trang này là mục lục tác giả, tác phẩm: mỗi mục dẫn tới bài giới thiệu riêng, đúng thứ tự sách.
Ngữ văn 8 Kết nối tri thức học những gì
Sách không xếp văn bản theo niên đại từ đầu đến cuối. Mỗi bài học là một vấn đề. Em đọc bốn văn bản trong cùng một bài để thấy nhiều cách viết cùng xoay quanh vấn đề ấy, rồi mới học tiếng Việt và tập làm văn ở cuối bài. Phần tác giả, tác phẩm giúp em nhớ văn bản nào của ai, ra đời trong hoàn cảnh nào, và thuộc thể loại gì, trước khi phân tích chi tiết.
Khi ôn, em không học thuộc tiểu sử dài. Với mỗi văn bản, em giữ bốn ý: tên, tác giả, thể loại, và một câu về điều văn bản muốn người đọc để ý. Mười bài dưới đây đi đúng thứ tự sách. Bấm vào từng dòng để mở bài tác giả, tác phẩm tương ứng.
Tác giả, tác phẩm Ngữ văn 8 học kì 1
Bài 1: Câu chuyện của lịch sử
Bài mở đầu bằng cách kể lịch sử. Lá cờ thêu sáu chữ vàng của Nguyễn Huy Tưởng dựng lại không khí nghĩa quân Tây Sơn, lá cờ và lời hiệu triệu gắn với người cầm quân. Đoạn Quang Trung đại phá quân Thanh trong Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái thuật lại cuộc tiến quân thần tốc và cách cầm quân quyết đoán. Thơ Ta đi tới của Tố Hữu đưa mạch sử ấy sang thế kỉ XX, nhịp thơ dồn để nói ý đi tới của cả dân tộc. Truyện Minh sư của Thái Bá Lợi hạ giọng xuống một người thầy trong chiến tranh, để em thấy lịch sử còn là lựa chọn của từng người. Cả bốn văn bản đều cần đặt vào đúng thời điểm trước khi nói “hay” hay “không hay”.
- Tác giả – tác phẩm: Lá cờ thêu sáu chữ vàng
- Tác giả – tác phẩm: Quang Trung đại phá quân Thanh
- Tác giả – tác phẩm: Ta đi tới
- Tác giả – tác phẩm: Minh sư
Bài 2: Vẻ đẹp cổ điển
Bài này luyện cách đọc cái đẹp đã được gọt trong thơ và trong kí. Thu điếu của Nguyễn Khuyến lấy việc ngồi câu làm cớ để dựng cảnh thu: ao, thuyền, lá, và một tiếng cá đớp rất khẽ. Thiên trường vãn vọng của Trần Nhân Tông nhìn làng quê lúc chiều từ ngôi vị một ông vua từng đi tu, lời ít mà cảnh rộng. Kí Ca Huế trên sông Hương của Hà Ánh Minh đưa em sang sinh hoạt văn hoá: điệu hát, con sông, người nghe. Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan dùng cảnh đèo để nói nỗi nhớ nước non theo lối ước lệ. Em đối chiếu: cùng nói cảnh, thơ trung đại và bài kí hiện đại không dùng một kiểu chi tiết.
- Tác giả – tác phẩm: Thu điếu
- Tác giả – tác phẩm: Thiên trường vãn vọng
- Tác giả – tác phẩm: Ca Huế trên sông Hương
- Tác giả – tác phẩm: Qua Đèo Ngang
Bài 3: Lời sông núi
Bài tập trung lời nói mang tính hiệu triệu và khẳng định chủ quyền. Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn viết để khích lệ tướng sĩ trước hiểm hoạ xâm lược, giọng vừa trách vừa khích. Tinh thần yêu nước của nhân dân ta của Hồ Chí Minh chỉ ra lòng yêu nước có ở nhiều tầng lớp, không chỉ ở sử sách. Nam quốc sơn hà là bài thơ thất ngôn tứ tuyệt khuyết danh thời Lý, thường được gắn với lần chống Tống; sách phổ thông hay nhắc Lý Thường Kiệt khi đặt bài vào bối cảnh ấy. Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn giải thích vì sao dời kinh từ Hoa Lư ra Đại La, dựa trên thế đất và vận nước. Đọc bài này, em thấy “lời sông núi” vừa là quân lệnh, vừa là văn chính luận.
- Tác giả – tác phẩm: Hịch tướng sĩ
- Tác giả – tác phẩm: Tinh thần yêu nước của nhân dân ta
- Tác giả – tác phẩm: Nam quốc sơn hà
- Tác giả – tác phẩm: Chiếu dời đô
Bài 4: Tiếng cười trào phúng trong thơ
Tiếng cười ở đây không phải để mua vui. Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu của Trần Tế Xương chế giễu một kì thi cuối thời thực dân, nơi danh vọng và tiền bạc đứng cạnh nhau. Lai Tân của Hồ Chí Minh, làm trong tù, kể chuyện quan và lính bằng giọng rất tỉnh, cái cười nằm ở sự vô trách nhiệm được kể như chuyện thường. Bài nghị luận của Trần Thị Hoa Lệ giúp em gọi tên các giọng cười: mỉa, hài, châm biếm. Vịnh cây vông của Nguyễn Công Trứ mượn một cây có gai để nói chuyện người đời. Em học cách chỉ ra tiếng cười nhằm vào thói nào, không chỉ nói “bài thơ hài hước”.
- Tác giả – tác phẩm: Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu
- Tác giả – tác phẩm: Lai Tân
- Tác giả – tác phẩm: Một số giọng điệu của tiếng cười trong thơ trào phúng
- Tác giả – tác phẩm: Vịnh cây vông
Bài 5: Những câu chuyện hài
Bài chuyển từ thơ sang truyện và lời dân gian. Trưởng giả học làm sang của Mô-li-e cười một người muốn mua địa vị bằng tiền và bằng cách bắt chước giới quý tộc. Chùm truyện cười dân gian Việt Nam dùng tình huống rất ngắn, thường một câu thoại cuối làm bật ý. Chùm ca dao trào phúng đưa tiếng cười vào lời hát, chê thói tham, thói nói một đằng làm một nẻo. Giá không có ruồi của nhà văn trào phúng Thổ Nhĩ Kỳ A-dít Ne-xin, tức Aziz Nesin, kể một người cứ đổ cho hoàn cảnh, cuối cùng đổ cho con ruồi, để trì hoãn việc mình định làm. Em thấy tiếng cười bốn văn bản này đều có đích: một thói xấu cụ thể.
- Tác giả – tác phẩm: Trưởng giả học làm sang
- Tác giả – tác phẩm: Chùm truyện cười dân gian Việt Nam
- Tác giả – tác phẩm: Chùm ca dao trào phúng
- Tác giả – tác phẩm: Giá không có ruồi
Tác giả, tác phẩm Ngữ văn 8 học kì 2
Bài 6: Chân dung cuộc sống
Bài học cách dựng người bằng chi tiết. Mắt sói của Đa-ni-en Pen-nác nhìn từ con sói một mắt trong vườn thú và từ cậu bé đứng ngoài chuồng, hai bên dần hiểu nhau. Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long khắc ông hoạ sĩ, cô kĩ sư và anh thanh niên trên đỉnh núi, nơi công việc âm thầm vẫn có người làm. Thơ Bếp lửa của Bằng Việt nhớ bà qua ngọn lửa bếp, kỉ niệm được kể bằng những việc rất nhỏ. Chiếc lá cuối cùng của O. Hen-ri dựng hai hoạ sĩ trẻ và một hoạ sĩ già, chiếc lá trên tường gắn với quyết định sống. Em tập tìm một chi tiết rồi nói chi tiết ấy làm lộ tính cách nào.
- Tác giả – tác phẩm: Mắt sói
- Tác giả – tác phẩm: Lặng lẽ Sapa
- Tác giả – tác phẩm: Bếp lửa
- Tác giả – tác phẩm: Chiếc lá cuối cùng
Bài 7: Tin yêu và ước vọng
Bốn văn bản viết về người lính và tuổi trẻ trong chiến tranh, nhưng không cùng một giọng. Đồng chí của Chính Hữu nói tình đồng đội bằng cái bắt tay, áo rách, và đêm phục kích. Lá đỏ của Nguyễn Đình Thi lấy lá trên đường hành quân làm hình ảnh người ra trận còn rất trẻ. Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê để các cô thanh niên xung phong tự kể việc phá bom, giọng có cả sự bâng khuâng lẫn sự bình tĩnh. Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật cười trong gian khổ: xe mất kính mà vẫn chạy, người lính vẫn nhìn thẳng. Em không gom cả bốn bài thành một nhận xét “ca ngợi anh hùng”; mỗi bài một kiểu người, một kiểu câu.
- Tác giả – tác phẩm: Đồng chí
- Tác giả – tác phẩm: Lá đỏ
- Tác giả – tác phẩm: Những ngôi sao xa xôi
- Tác giả – tác phẩm: Bài thơ về tiểu đội xe không kính
Bài 8: Nhà văn và trang viết
Bài chuyển sang hỏi: người viết nhìn đời bằng cách nào. Bài của Xuân Diệu về nhà thơ của quê hương làng cảnh Việt Nam giúp em đọc lại Nguyễn Khuyến như một lựa chọn nghệ thuật, không chỉ như một tiểu sử. Trần Đình Sử coi việc đọc văn là cuộc chơi tìm ý nghĩa: người đọc phải lần ra mạch nghĩa, không dừng ở kể lại cốt truyện. Xe đêm của C. Pau-xtốp-xki là truyện ngắn về một chuyến tàu đêm và sự tử tế bất ngờ giữa những người xa lạ. Bài của Lê Quang Hưng về tập Nắng mới nói sự thành thực trong thơ Lưu Trọng Lư. Em dùng bài này khi cần trả lời câu “văn bản ấy chọn cách viết nào, và cách viết ấy phục vụ điều gì”.
- Tác giả – tác phẩm: Nhà thơ của quê hương làng cảnh Việt Nam
- Tác giả – tác phẩm: Đọc văn – cuộc chơi tìm ý nghĩa
- Tác giả – tác phẩm: Xe đêm
- Tác giả – tác phẩm: Nắng mới – sự thành thực của một tâm hồn giàu mơ mộng
Bài 9: Hôm nay và ngày mai
Bài đưa nghị luận ra vấn đề đang diễn ra. Văn bản của Lê Anh Tuấn bàn đồng bằng sông Cửu Long: không chỉ sống chung với lũ theo thói quen cũ, mà cần cách ứng xử khác với nước. Bài của Lâm Lê xuất phát từ loạt phim Hành tinh của chúng ta, dùng hình ảnh đẹp của thiên nhiên để nói những cảnh báo đã sát. Diễn từ được lưu hành dưới tên thủ lĩnh da đỏ Xi-át-tơn nói về đất đai như thứ không mua bán được bằng lời hợp đồng; em đọc nó như văn bản trong sách, một lời khẳng định quan hệ giữa con người và nơi mình sống. Bài của Dương Xuân Thảo về dấu chân sinh thái kéo vấn đề ấy về từng người: mỗi lựa chọn tiêu dùng để lại một vết. Bốn văn bản phục vụ bài nghị luận xã hội cuối năm.
- Tác giả – tác phẩm: Miền châu thổ Sông Cửu Long cần chuyển đổi từ sống chung sang chào đón lũ
- Tác giả – tác phẩm: Choáng ngợp và đau đớn: những cảnh báo từ loạt phim Hành tinh của chúng ta
- Tác giả – tác phẩm: Diễn từ ứng khẩu của thủ lĩnh da đỏ Xi-át-tơn
- Tác giả – tác phẩm: Dấu chân sinh thái của mỗi người và thông điệp từ trái đất
Bài 10: Sách, người bạn đồng hành
Bài khép sách bằng chính thói quen đọc. Văn bản được học là lời giới thiệu của An-nơ Go-xi-nhi cho những chuyện chưa kể về nhóc Ni-cô-la. Lời giới thiệu không phải truyện. Em học cách người viết nói với người sắp đọc: gợi mà không kể hết, cho biết sách này nối tiếp một bộ truyện thiếu nhi đã quen, và mời người đọc vào giọng kể hài hước. Từ bài này, em viết được một đoạn giới thiệu ngắn cho một cuốn em thật sự đọc, theo đúng thể loại, không biến thành bài cảm nghĩ dài.
- Tác giả – tác phẩm: Lời giới thiệu cuốn sách Nhóc Ni-cô-la: những chuyện chưa kể
Cách dùng mục lục này khi học
Em học theo bài, không học nhảy cóc theo tác giả em thích. Trong một bài, em đọc cả bốn văn bản rồi mới làm câu hỏi, vì đề thường hỏi em so sánh hai cách viết. Ví dụ ở bài 7, đề có thể hỏi sự khác giữa người lính trong Đồng chí và người lính lái xe trong bài của Phạm Tiến Duật. Nếu em chỉ học một văn bản, câu so sánh bỏ trống.
Với phần tác giả, em ghi năm sinh năm mất khi sách đã cho và khi con số ấy giúp em đặt văn bản vào đúng thời. Không cần chép hết sự nghiệp. Trần Tế Xương và Nguyễn Khuyến cùng thời nhưng tiếng cười và cảnh thu không giống nhau; sự khác ấy quan trọng hơn một danh sách tác phẩm em không đọc.
Khi làm bài tập đọc hiểu, em mở đúng văn bản trong bài đang học. Đừng lấy một câu của bài khác để minh hoạ cho có dẫn chứng. Dẫn chứng phải nằm trong văn bản đề đang hỏi, và em chỉ trích một câu ngắn nếu thật sự cần, rồi nói câu ấy làm gì trong đoạn.
Cuối mỗi học kì, em lập một bảng mười cột: tên văn bản, tác giả, thể loại, đề tài, một chi tiết nhớ, một câu luận em tự viết. Bảng ấy thay cho việc đọc lại toàn bộ tiểu sử vào đêm trước kiểm tra.
Giải sách lớp 8 cùng bộ Kết nối tri thức
Phần tác giả, tác phẩm chỉ là một mảng của năm lớp 8. Các trang dưới đây là mục lục lời giải các môn cùng bộ sách, để em chuyển sang Toán, Tiếng Anh, Khoa học tự nhiên hoặc các môn còn lại khi cần.
- Giải sgk Toán 8 – Kết nối tri thức
- Soạn văn 8 – Kết nối tri thức
- Giải sgk Tiếng Anh 8 – Kết nối tri thức
- Giải sgk Công nghệ 8 – Kết nối tri thức
- Giải sgk GDCD 8 – Kết nối tri thức
- Giải sgk Tin học 8 – Kết nối tri thức
- Giải sgk Lịch sử & Địa lí 8 – Kết nối tri thức
- Giải sgk Khoa học tự nhiên 8 – Kết nối tri thức
- Giải SGK Hoạt động trải nghiệm 8 – Kết nối tri thức
Câu hỏi thường gặp
Ngữ văn 8 Kết nối tri thức có bao nhiêu bài học?
Mười bài. Học kì 1 có năm bài, từ câu chuyện của lịch sử đến những câu chuyện hài. Học kì 2 có năm bài, từ chân dung cuộc sống đến thói quen đọc sách.
Nam quốc sơn hà của ai?
Bài thơ khuyết danh thời Lý. Sách phổ thông thường đặt bài vào bối cảnh chống Tống và nhắc tới Lý Thường Kiệt khi nói hoàn cảnh ra đời.
Giá không có ruồi là truyện của ai?
Của nhà văn trào phúng Thổ Nhĩ Kỳ A-dít Ne-xin, tức Aziz Nesin. Truyện cười thói trì hoãn và đổ lỗi, kể cả đổ cho con ruồi.
Học kì 2 Ngữ văn 8 bắt đầu bằng văn bản nào?
Bài 6 Chân dung cuộc sống, mở bằng Mắt sói của Đa-ni-en Pen-nác, rồi tới Lặng lẽ Sa Pa, Bếp lửa và Chiếc lá cuối cùng.
Ôn tác giả tác phẩm Ngữ văn 8 cần ghi những gì?
Với mỗi văn bản, em giữ tên, tác giả, thể loại và một câu về điều văn bản muốn người đọc để ý. Không cần chép hết tiểu sử.