Bài thơ Ông phỗng đá được sáng tác theo thể thơ nào? Dấu hiệu nhận biết và ý nghĩa

Trả lời nhanh

Bài thơ ông phỗng đá được sáng tác theo thể thơ nào. Bài thơ Ông phỗng đá của Nguyễn Khuyến được sáng tác theo thể thất ngôn tứ tuyệt Đường luật. Bài có 4 câu, mỗi câu 7 chữ, gieo một vần bằng “ông” ở cuối câu 1, 2 và 4 (ông – đồng – không), và theo đúng luật bằng trắc, niêm của thơ Đường (bài làm theo luật trắc vì chữ thứ hai của câu đầu là “đứng”, thanh trắc).

Bài thơ Ông phỗng đá và tác giả Nguyễn Khuyến

Đây là bài thơ ngắn được dùng làm ngữ liệu đọc hiểu thơ Đường luật trong chương trình Ngữ văn 8 (có trong sách bài tập bộ Kết nối tri thức). Toàn văn bài thơ:

Ông đứng làm chi đó hỡi ông?
Mà trơ như đá vững như đồng!
Đêm ngày gìn giữ cho ai đó,
Non nước đầy vơi có biết không?

Nguyễn Khuyến (1835 – 1909) quê làng Yên Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Ông đỗ đầu cả ba kì thi Hương, thi Hội, thi Đình nên được gọi là Tam nguyên Yên Đổ. Sau một thời gian làm quan, trước cảnh đất nước rơi vào tay thực dân Pháp, ông cáo quan về quê. Thơ ông có hai mảng nổi bật: thơ viết về làng quê, cảnh thu (Thu điếu, Thu vịnh, Thu ẩm) và thơ trào phúng (Tiến sĩ giấy, Hội Tây…). Ông phỗng đá thuộc mảng thơ trào phúng: cười nhẹ mà thấm, giọng hỏi han mà chứa nhiều nỗi niềm.

Dấu hiệu nhận biết thể thất ngôn tứ tuyệt Đường luật trong bài

Để trả lời chắc chắn câu hỏi “bài thơ được sáng tác theo thể thơ nào”, em nên chỉ ra đủ các dấu hiệu sau, không chỉ đếm số chữ.

1. Số câu, số chữ

Bài có 4 câu (“tứ tuyệt”), mỗi câu 7 chữ (“thất ngôn”), tổng cộng 28 chữ. Nếu bài có 8 câu 7 chữ thì đó là thất ngôn bát cú; nếu xen câu 6 chữ và 8 chữ thì là lục bát.

2. Vần

Bài gieo vần bằng, chỉ dùng một vần “ông” ở các chữ cuối câu 1, 2, 4: ông – đồng – không. Câu 3 kết thúc bằng chữ “đó” (thanh trắc) nên không gieo vần, đúng quy định của tứ tuyệt.

3. Luật bằng trắc

Thơ Đường theo nguyên tắc “nhất tam ngũ bất luận, nhị tứ lục phân minh”: các chữ thứ 1, 3, 5 có thể linh hoạt, còn chữ thứ 2, 4, 6 phải đúng luật. Xét bài thơ:

Câu Chữ thứ 2 Chữ thứ 4 Chữ thứ 6 Mô hình
1 đứng (T) chi (B) hỡi (T) T – B – T
2 trơ (B) đá (T) như (B) B – T – B
3 ngày (B) giữ (T) ai (B) B – T – B
4 nước (T) vơi (B) biết (T) T – B – T

Chữ thứ hai của câu 1 là “đứng” (trắc) nên bài làm theo luật trắc. Trong mỗi câu, các chữ 2, 4, 6 luân phiên bằng – trắc; câu 1 và câu 2 đối thanh với nhau, câu 3 và câu 4 cũng vậy.

4. Niêm

Niêm là sự “dính” về thanh giữa các câu: câu 2 niêm với câu 3, câu 1 niêm với câu 4 (chữ thứ hai cùng thanh). Ở đây “trơ” và “ngày” cùng là thanh bằng, “đứng” và “nước” cùng là thanh trắc. Bài thơ hoàn toàn đúng niêm.

5. Bố cục khai – thừa – chuyển – hợp

  • Câu 1 (khai): mở ra bằng một câu hỏi bất ngờ, như đang trò chuyện với pho tượng.
  • Câu 2 (thừa): tiếp ý, tả dáng vẻ “trơ như đá, vững như đồng”.
  • Câu 3 (chuyển): chuyển sang việc “gìn giữ” đêm ngày và đặt câu hỏi: giữ cho ai?
  • Câu 4 (hợp): khép lại bằng câu hỏi lớn về “non nước đầy vơi”, nâng chuyện pho tượng thành chuyện vận nước.

“Ông phỗng đá” là gì?

Phỗng là loại tượng người nhỏ bằng đá hoặc sành, dáng to béo, bụng phệ, thường đặt ở hòn non bộ, sân đình, lăng miếu như một người đứng canh giữ. Trong dân gian có cách nói “đứng như phỗng”, chỉ người đứng trơ ra, ngây người, không phản ứng gì trước việc xảy ra quanh mình. Nguyễn Khuyến tận dụng cả hai nghĩa ấy: pho tượng có dáng của người “canh giữ”, nhưng thật ra vô tri.

Tác dụng của thành ngữ “trơ như đá, vững như đồng”

Hai thành ngữ đặt liền nhau trong câu 2 vừa tả đúng chất liệu của pho tượng (đá, cứng, bất động), vừa mang nghĩa bóng chỉ thái độ trơ lì, vô cảm. Bề ngoài, “vững như đồng” nghe như lời khen sự kiên định; nhưng đi cùng “trơ như đá” thì lời khen hóa thành lời mỉa: đứng vững mãi mà chẳng làm được gì, chẳng cảm thấy gì. Cách dùng thành ngữ quen thuộc khiến lời thơ gần với lời ăn tiếng nói hằng ngày, tạo giọng điệu trào phúng nhẹ nhàng mà sâu cay.

Nội dung và ý nghĩa của bài thơ

Cả bài là chuỗi câu hỏi tu từ: hỏi ông đứng làm gì, giữ cho ai, có biết non nước đầy vơi hay không. Những câu hỏi không cần lời đáp ấy dồn người đọc đến một nhận ra: kẻ được đặt vào vị trí “canh giữ” lại không hề quan tâm đến sự mất còn của đất nước.

  • Lớp nghĩa phê phán: nhiều người đọc hiểu “ông phỗng” là hình ảnh những kẻ có chức vị trong bộ máy cai trị thời đó, ngồi yên ở vị trí của mình mà thờ ơ trước cảnh “non nước đầy vơi”, tức đất nước suy vong dưới ách thực dân.
  • Lớp nghĩa tự trào: cũng có thể hiểu nhà thơ đang tự hỏi chính mình, một nhà nho từng làm quan nay đứng ngoài thời cuộc, bất lực trước vận nước. Tiếng cười vì thế mang theo nỗi buồn và sự day dứt.
  • Tấm lòng nhà thơ: dù hiểu theo cách nào, câu kết “Non nước đầy vơi có biết không?” vẫn cho thấy nỗi lo âu, trăn trở của Nguyễn Khuyến đối với đất nước.

Phân biệt với các thể thơ dễ nhầm

Thể thơ Số câu Số chữ mỗi câu Ví dụ
Thất ngôn tứ tuyệt Đường luật 4 7 Ông phỗng đá, Bánh trôi nước
Thất ngôn bát cú Đường luật 8 7 Thu điếu, Qua Đèo Ngang
Lục bát Không cố định Xen kẽ 6 và 8 Ca dao, Truyện Kiều

Một số tài liệu trên mạng ghi bài này là thơ lục bát; đó là nhầm lẫn, vì cả bốn câu đều có 7 chữ. Cũng nên phân biệt với thơ bảy chữ hiện đại: thơ bảy chữ có thể nhiều khổ, không bắt buộc niêm luật chặt chẽ, còn Ông phỗng đá tuân thủ đầy đủ vần, luật, niêm của thơ Đường.

Gợi ý trả lời các câu đọc hiểu thường gặp

  1. Bài thơ được sáng tác theo thể thơ nào? Thất ngôn tứ tuyệt Đường luật.
  2. Nhân vật trữ tình là ai, đang nói với ai? Nhân vật trữ tình là nhà thơ, đang trò chuyện, hỏi han “ông phỗng đá”.
  3. Nêu tác dụng của câu hỏi tu từ. Tạo giọng điệu trào phúng, mỉa mai sự vô tri, thờ ơ; đồng thời bộc lộ nỗi trăn trở về vận mệnh đất nước.
  4. Đối tượng trào phúng của bài thơ là gì? Những kẻ ở vị trí “canh giữ” mà vô cảm trước vận nước; có thể hiểu thêm là lời tự trào của nhà thơ.
  5. Thông điệp rút ra: mỗi người cần có trách nhiệm, không thờ ơ, “trơ như đá” trước những vấn đề chung của cộng đồng và đất nước.

Câu hỏi thường gặp

Ông phỗng đá là của ai?

Bài thơ của Nguyễn Khuyến (1835 – 1909), nhà thơ được gọi là Tam nguyên Yên Đổ.

Bài thơ Ông phỗng đá gieo vần gì?

Bài gieo một vần bằng “ông” ở cuối câu 1, 2 và 4: ông – đồng – không.

Bài Ông phỗng đá làm theo luật bằng hay luật trắc?

Luật trắc, vì chữ thứ hai của câu đầu là “đứng”, mang thanh trắc.

Thành ngữ trong bài thơ Ông phỗng đá là gì?

Hai thành ngữ “trơ như đá” và “vững như đồng”, dùng để mỉa mai sự trơ lì, vô cảm.

Ông phỗng đá có phải thơ lục bát không?

Không. Cả bốn câu đều có 7 chữ và theo niêm luật thơ Đường nên đây là thất ngôn tứ tuyệt Đường luật.