Trả lời nhanh
Ngôn ngữ giao tiếp trong Truyện Kiều nổi bật ở chỗ lời mỗi nhân vật đúng với tính cách và vị thế của họ (Mã Giám Sinh cộc lốc, Hoạn Thư khéo léo biện bạch, Thúy Kiều tinh tế, Từ Hải hào sảng), kết hợp nhuần nhuyễn từ Hán Việt, điển cố với thành ngữ, ca dao và lời ăn tiếng nói hằng ngày. Nhờ vậy, ngôn ngữ Truyện Kiều đi sâu vào đời sống: người Việt lẩy Kiều, tập Kiều, dùng câu Kiều như thành ngữ và biến tên nhân vật (Sở Khanh, Hoạn Thư, Tú Bà) thành danh từ chung.
Giới thiệu Nguyễn Du và Truyện Kiều
Tác giả Nguyễn Du (1765 – 1820)
- Tên chữ là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên; quê ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Ông xuất thân trong một gia đình đại quý tộc có truyền thống khoa bảng và văn chương.
- Cuộc đời ông gắn với giai đoạn đầy biến động cuối thế kỉ XVIII – đầu thế kỉ XIX (Lê – Trịnh suy tàn, Tây Sơn, nhà Nguyễn). Những năm lưu lạc giúp ông hiểu sâu đời sống và nỗi khổ của nhiều tầng lớp. Dưới triều Nguyễn, ông làm quan và từng đi sứ Trung Quốc.
- Sáng tác chữ Hán gồm ba tập thơ: Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục. Sáng tác chữ Nôm tiêu biểu là Truyện Kiều và Văn tế thập loại chúng sinh (Văn chiêu hồn).
- Nguyễn Du được tôn vinh là đại thi hào dân tộc; năm 2015, kỉ niệm 250 năm năm sinh của ông nằm trong danh sách các sự kiện kỉ niệm danh nhân được UNESCO hưởng ứng.
Tác phẩm Truyện Kiều
- Tên gốc là Đoạn trường tân thanh (tiếng kêu mới về nỗi đau đứt ruột), gồm 3254 câu thơ lục bát.
- Nguyễn Du dựa vào cốt truyện Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc) nhưng sáng tạo lại gần như hoàn toàn về nghệ thuật: chuyển từ văn xuôi chương hồi sang thơ lục bát, đi sâu vào nội tâm nhân vật, tả cảnh ngụ tình.
- Truyện kể cuộc đời mười lăm năm lưu lạc của Thúy Kiều, theo ba phần: gặp gỡ và đính ước, gia biến và lưu lạc, đoàn tụ. Tác phẩm tố cáo xã hội bất công chà đạp con người, đồng thời bày tỏ niềm thương cảm sâu sắc và đề cao tài sắc, phẩm giá, khát vọng tình yêu tự do của con người.
Đặc điểm ngôn ngữ giao tiếp trong Truyện Kiều
1. Lời đối thoại khắc họa tính cách nhân vật
Chỉ qua vài câu nói, Nguyễn Du để nhân vật tự bộc lộ mình. Khi đến hỏi mua Kiều, Mã Giám Sinh trả lời:
Hỏi tên, rằng: Mã Giám Sinh.
Hỏi quê, rằng: Huyện Lâm Thanh cũng gần.
Câu đáp cụt lủn, thiếu chủ ngữ, không một lời thưa gửi phơi bày sự thô lỗ, vô học của kẻ đội lốt “giám sinh” (học trò trường Quốc Tử Giám). Ngược lại, trong cảnh báo ân báo oán, Hoạn Thư biện bạch rất khéo:
Rằng: Tôi chút phận đàn bà,
Ghen tuông thì cũng người ta thường tình.
Hoạn Thư tự hạ mình (“chút phận đàn bà”) và kéo cái lỗi riêng thành chuyện chung của mọi người (“người ta thường tình”), rồi kể công đã cho Kiều ra chép kinh ở Quan Âm các, chốt bằng câu “Chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai”. Lời lẽ sắc sảo đến mức Kiều phải thừa nhận đó là người “khôn ngoan” và tha bổng. Câu chào mở đầu của Kiều với Hoạn Thư, “Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây!”, lại là một ví dụ về cách dùng lời xưng hô cung kính để mỉa mai: vẫn gọi “tiểu thư” nhưng vị thế hai người đã đảo ngược.
2. Độc thoại nội tâm: lời nhân vật nói với chính mình
Nguyễn Du là một trong những nhà thơ trung đại sử dụng độc thoại nội tâm thành công nhất. Sau lần gặp Kim Trọng, Kiều tự hỏi: “Người đâu gặp gỡ làm chi, / Trăm năm biết có duyên gì hay không?”. Hai câu thơ vừa bâng khuâng vừa lo âu, cho thấy tình cảm mới chớm và dự cảm bất an. Khi bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích, dòng suy nghĩ của nàng hướng về người yêu trước, rồi mới đến cha mẹ, thể hiện qua những câu như “Tưởng người dưới nguyệt chén đồng”, phù hợp tâm lí một cô gái vừa phải dứt bỏ mối tình đầu.
3. Nghệ thuật ứng xử bằng lời
Đoạn trao duyên là mẫu mực về cách nói khi nhờ cậy một việc khó. Kiều mở lời: “Cậy em, em có chịu lời, / Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.”
- Từ “cậy” (thay vì “nhờ”) bao hàm sự tin tưởng, gửi gắm điều hệ trọng nhất.
- Từ “chịu lời” cho thấy Kiều hiểu em gái phải nhận một việc thiệt thòi, nên cần được sự đồng ý chứ không thể ép buộc.
- Hành động “lạy” và từ “thưa” (vốn dành cho người trên) đảo ngược thứ bậc chị – em, khiến Thúy Vân khó lòng từ chối mà vẫn cảm thấy được tôn trọng.
Bài học giao tiếp rút ra: khi nhờ người khác, cần chọn từ ngữ thể hiện sự trân trọng, thừa nhận phần thiệt của họ và nêu rõ lí do.
4. Hòa quyện ngôn ngữ bác học và ngôn ngữ bình dân
Truyện Kiều dùng nhiều từ Hán Việt, điển cố (“chén đồng”, “má hồng”, “mây mưa”…) tạo vẻ trang trọng, đồng thời vận dụng tài tình thành ngữ, ca dao và khẩu ngữ: “mạt cưa mướp đắng”, “ma đưa lối quỷ dẫn đường”, “tình trong như đã mặt ngoài còn e”. Lời người kể chuyện thường trau chuốt, giàu hình ảnh; lời nhân vật thuộc tầng lớp thấp (Tú Bà, Sở Khanh, bọn sai nha) lại đậm chất khẩu ngữ, thậm chí thô tục. Sự phân hóa này giúp ngôn ngữ tác phẩm vừa sang trọng vừa gần gũi với mọi tầng lớp người đọc.
Vận dụng ngôn ngữ Truyện Kiều trong giao tiếp
Câu Kiều trở thành cách nói quen thuộc
| Câu, cụm từ gốc Truyện Kiều | Nghĩa khi dùng trong giao tiếp |
|---|---|
| Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau | Người có tài thường gặp nhiều trắc trở. |
| Tình trong như đã, mặt ngoài còn e | Trong lòng đã có tình cảm nhưng bề ngoài còn ngại ngùng. |
| Mạt cưa mướp đắng | Hai kẻ xấu, lừa lọc gặp nhau, chẳng ai hơn ai. |
| Ma đưa lối, quỷ dẫn đường | Bị xui khiến đi vào con đường sai lầm, nguy hiểm. |
| Bề ngoài thơn thớt nói cười, / Mà trong nham hiểm giết người không dao | Chỉ người bề ngoài ngọt ngào nhưng bên trong thâm độc. |
| Thiện căn ở tại lòng ta, / Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài | Đề cao tấm lòng lương thiện hơn tài năng; thường dùng khi khuyên nhủ, nói về đạo đức nghề nghiệp. |
| Của tin gọi một chút này làm ghi | Dùng khi tặng một món quà nhỏ làm kỉ niệm, làm tin. |
Tên nhân vật thành danh từ chung
Một số nhân vật được khắc họa sắc nét đến mức tên của họ dùng để gọi cả một loại người: “Sở Khanh” chỉ kẻ lừa gạt tình cảm phụ nữ; “Hoạn Thư” chỉ người ghen tuông thâm hiểm (thành ngữ “ghen như Hoạn Thư”); “Tú Bà” chỉ kẻ buôn bán, bóc lột phụ nữ. Ngược lại, “Từ Hải” gợi hình mẫu người anh hùng “đội trời đạp đất”. Khi dùng các từ này, cần cân nhắc ngữ cảnh vì chúng mang sắc thái đánh giá mạnh, dễ gây xúc phạm.
Lẩy Kiều, tập Kiều, vịnh Kiều
- Lẩy Kiều: mượn nguyên câu Kiều để nói về hoàn cảnh của mình. Ví dụ, người đang mong tin tức có thể than “tin sương luống những rày trông mai chờ”.
- Tập Kiều: ghép các câu Kiều ở những đoạn khác nhau thành một bài thơ mới mang ý mới, đòi hỏi người làm thuộc Kiều và rất tinh ý.
- Vịnh Kiều: sáng tác thơ bình luận, bày tỏ thái độ về nhân vật, sự việc trong truyện.
Ngoài ra còn có các hình thức ngâm Kiều, kể Kiều trong sinh hoạt văn hóa dân gian. Lời răn xưa “Đàn ông chớ kể Phan Trần, / Đàn bà chớ kể Thúy Vân, Thúy Kiều” lại cho thấy điều ngược lại: tác phẩm được yêu thích và thuộc lòng rộng rãi đến mức các nhà nho bảo thủ phải lo ngại ảnh hưởng của nó. Ngày nay, câu Kiều vẫn xuất hiện trong báo chí, quảng cáo, trong các bài phát biểu ngoại giao của cả chính khách Việt Nam và nước ngoài khi muốn tạo sự gần gũi với người Việt.
Gợi ý thực hiện báo cáo nghiên cứu chuyên đề
Nếu em chọn vấn đề này để viết báo cáo hoặc thuyết trình trong chuyên đề văn học trung đại, có thể đi theo các bước sau:
- Xác định đề tài và câu hỏi nghiên cứu: ví dụ “Ngôn ngữ đối thoại góp phần khắc họa nhân vật như thế nào?” hoặc “Học sinh lớp 11 hiện nay còn dùng câu Kiều trong giao tiếp ở mức độ nào?”.
- Thu thập tư liệu: đọc văn bản Truyện Kiều (bản có chú thích tin cậy), các bài nghiên cứu, từ điển thành ngữ; có thể khảo sát bạn bè bằng phiếu hỏi.
- Phân tích: thống kê, phân loại các ví dụ (đối thoại, độc thoại, thành ngữ, điển cố), phân tích một số đoạn tiêu biểu.
- Viết báo cáo: gồm phần mở đầu (lí do chọn đề tài, mục đích, phạm vi, phương pháp), phần nội dung (các luận điểm có dẫn chứng), phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo.
- Trình bày: chuẩn bị trang chiếu ngắn gọn, minh họa bằng vài câu Kiều tiêu biểu, có thể đọc diễn cảm để thu hút người nghe.
Lưu ý: số liệu khảo sát phải do em tự thu thập và ghi rõ phạm vi (ví dụ: số bạn tham gia, thời gian khảo sát); mọi câu trích dẫn cần ghi rõ nguồn và đối chiếu với văn bản để tránh chép sai.
Lưu ý khi vận dụng ngôn ngữ Truyện Kiều trong giao tiếp
- Trích đúng nguyên văn; một chữ sai có thể làm hỏng cả câu thơ và ý nghĩa.
- Dùng đúng hoàn cảnh: câu Kiều mang sắc thái trang trọng hoặc trữ tình, không phải lúc nào cũng hợp với giao tiếp thân mật hay trang nghiêm.
- Tránh dùng tên nhân vật phản diện để gán cho người khác, vì đó là lời đánh giá nặng nề.
- Hiểu nghĩa trước khi dùng: nhiều câu Kiều có điển cố, cần tra chú thích để không dùng sai nghĩa.
Câu hỏi thường gặp
Lẩy Kiều là gì?
Lẩy Kiều là mượn nguyên một hoặc vài câu thơ trong Truyện Kiều để diễn tả hoàn cảnh, tâm trạng của chính mình trong giao tiếp.
Vì sao tên Sở Khanh, Hoạn Thư trở thành danh từ chung?
Vì Nguyễn Du khắc họa hai nhân vật này quá sắc nét, người đọc dùng tên họ để gọi chung kiểu người lừa tình (Sở Khanh) và kiểu người ghen tuông thâm hiểm (Hoạn Thư).
Truyện Kiều có bao nhiêu câu thơ?
Truyện Kiều gồm 3254 câu thơ viết theo thể lục bát, tên gốc là Đoạn trường tân thanh.
Lời nói của Mã Giám Sinh thể hiện tính cách gì?
Câu trả lời cộc lốc, thiếu chủ ngữ và lời thưa gửi cho thấy Mã Giám Sinh thô lỗ, vô học, trái ngược với danh xưng giám sinh mà hắn tự nhận.
Nguyễn Du có những tác phẩm nào tiêu biểu?
Chữ Hán có ba tập thơ Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục; chữ Nôm có Truyện Kiều và Văn tế thập loại chúng sinh.