Trả lời nhanh
Cảnh ngày xuân là đoạn trích gồm 18 câu thơ lục bát (từ câu 39 đến câu 56) trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, nằm ngay sau đoạn tả tài sắc chị em Thúy Kiều. Đoạn thơ vẽ bức tranh thiên nhiên mùa xuân trong trẻo, giàu sức sống và không khí lễ hội tiết Thanh minh náo nức, rồi khép lại bằng cảnh chiều tà với tâm trạng bâng khuâng của chị em Kiều khi ra về. Bố cục gồm 3 phần (4 câu – 8 câu – 6 câu); nghệ thuật nổi bật là bút pháp tả cảnh ngụ tình, ngôn ngữ giàu hình ảnh, nhiều từ láy, ẩn dụ và so sánh.
Tìm hiểu chung về đoạn trích Cảnh ngày xuân
1. Văn bản đoạn trích
Ngày xuân con én đưa thoi,
Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi.
Cỏ non xanh tận chân trời,
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.
Thanh minh trong tiết tháng ba,
Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh.
Gần xa nô nức yến anh,
Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân.
Dập dìu tài tử giai nhân,
Ngựa xe như nước áo quần như nêm.
Ngổn ngang gò đống kéo lên,
Thoi vàng vó rắc tro tiền giấy bay.
Tà tà bóng ngả về tây,
Chị em thơ thẩn dan tay ra về.
Bước dần theo ngọn tiểu khê,
Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh.
Nao nao dòng nước uốn quanh,
Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang.
Giải nghĩa một số từ khó
| Từ ngữ | Nghĩa |
|---|---|
| Con én đưa thoi | Chim én bay qua lại như con thoi dệt vải; cũng gợi thời gian trôi nhanh |
| Thiều quang | Ánh sáng đẹp, ấm áp của mùa xuân |
| Chín chục đã ngoài sáu mươi | Mùa xuân có 90 ngày, đã qua hơn 60 ngày, tức đang ở tháng thứ ba |
| Thanh minh | Một trong 24 tiết khí, bắt đầu khoảng ngày 4 – 5 tháng 4 dương lịch; trong thơ gọi là “tiết tháng ba” |
| Tảo mộ | Đi viếng, sửa sang, quét dọn mộ người thân |
| Đạp thanh | Giẫm lên cỏ xanh, tức đi chơi xuân ở chốn đồng quê |
| Yến anh | Chim én và chim oanh; ẩn dụ chỉ dòng người nam nữ đi hội |
| Tài tử, giai nhân | Người con trai có tài và người con gái đẹp |
| Thoi vàng vó | Giấy vàng mã cắt hình thoi để đốt khi cúng |
| Tiểu khê | Dòng suối nhỏ |
| Thanh thanh | Thanh nhẹ, dịu dàng, trong trẻo |
| Nao nao | Gợi dòng nước trôi nhẹ, đồng thời gợi lòng người xao xuyến, bâng khuâng |
2. Đôi nét về tác giả Nguyễn Du
- Thân thế: Nguyễn Du (1765 – 1820), tên chữ là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên, quê ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Ông sinh ra trong một gia đình đại quý tộc có truyền thống khoa bảng và văn chương; cha là Nguyễn Nghiễm từng giữ chức Tể tướng.
- Cuộc đời: Nguyễn Du sống vào giai đoạn cuối thế kỉ XVIII – đầu thế kỉ XIX, khi xã hội phong kiến khủng hoảng, chiến tranh liên miên. Ông có nhiều năm lưu lạc, sống gần gũi với nhân dân, sau đó làm quan dưới triều Nguyễn và từng được cử đi sứ Trung Quốc. Vốn sống phong phú cùng trái tim nhân đạo lớn giúp ông thấu hiểu nỗi khổ của con người.
- Sự nghiệp: Sáng tác chữ Hán có ba tập thơ Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục. Sáng tác chữ Nôm tiêu biểu là Đoạn trường tân thanh (thường gọi là Truyện Kiều) và Văn chiêu hồn.
- Vị trí: Nguyễn Du là đại thi hào dân tộc, được tôn vinh là danh nhân văn hóa thế giới; Truyện Kiều được xem là kiệt tác của văn học Việt Nam.
3. Đôi nét về tác phẩm
- Hoàn cảnh sáng tác: Truyện Kiều được viết vào đầu thế kỉ XIX (khoảng 1805 – 1809). Nguyễn Du dựa vào cốt truyện Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc) nhưng sáng tạo rất lớn về ngôn ngữ, nghệ thuật miêu tả và chiều sâu nhân đạo.
- Thể loại: truyện thơ Nôm, gồm 3254 câu thơ lục bát, chia thành ba phần: Gặp gỡ và đính ước, Gia biến và lưu lạc, Đoàn tụ.
- Vị trí đoạn trích: thuộc phần Gặp gỡ và đính ước, ngay sau đoạn tả tài sắc chị em Thúy Kiều. Sau cuộc du xuân này, Kiều gặp nấm mộ Đạm Tiên rồi gặp Kim Trọng, nên đoạn trích còn có vai trò mở đường cho những biến cố tiếp theo.
Bố cục, nội dung chính và phương thức biểu đạt
4. Bố cục
- Phần 1 (4 câu đầu): khung cảnh thiên nhiên mùa xuân.
- Phần 2 (8 câu tiếp): khung cảnh lễ hội trong tiết Thanh minh.
- Phần 3 (6 câu cuối): cảnh chị em Thúy Kiều du xuân trở về.
Trình tự ba phần đi theo thời gian của một ngày du xuân: từ sáng xuân rộn ràng đến buổi chiều nhạt nắng, cảnh vật và lòng người cũng đổi từ náo nức sang bâng khuâng.

5. Nội dung chính
Đoạn trích khắc họa bức tranh thiên nhiên và lễ hội mùa xuân tươi đẹp, trong sáng, náo nhiệt qua cuộc du xuân của chị em Thúy Kiều trong tiết Thanh minh, đồng thời thể hiện tâm trạng xao xuyến, bâng khuâng của con người lúc ngày tàn hội tan.
6. Phương thức biểu đạt
Miêu tả là chính, kết hợp với tự sự (kể cuộc du xuân) và biểu cảm (gợi tâm trạng nhân vật).
7. Thể loại
Đoạn trích thuộc truyện thơ Nôm, viết bằng thể thơ lục bát.
Giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật của Cảnh ngày xuân
8. Giá trị nội dung
- Bức tranh thiên nhiên mùa xuân hiện lên khoáng đạt, trong trẻo, tinh khôi và tràn đầy sức sống.
- Bức tranh lễ hội phản ánh nét đẹp văn hóa truyền thống: lễ tảo mộ thể hiện lòng biết ơn tổ tiên, hội đạp thanh là dịp gặp gỡ của nam thanh nữ tú.
- Cảnh ra về nhuốm màu tâm trạng, cho thấy sự tinh tế của Nguyễn Du khi nắm bắt những rung động mơ hồ trong lòng người.
9. Giá trị nghệ thuật
- Ngôn ngữ miêu tả giàu hình ảnh, giàu nhịp điệu; nhiều từ láy (nô nức, dập dìu, tà tà, thơ thẩn, thanh thanh, nao nao) vừa tả cảnh vừa gợi tình.
- Bút pháp tả cảnh ngụ tình: cảnh buổi chiều nhuốm sắc thái tâm trạng nhân vật.
- Biện pháp ẩn dụ (yến anh), so sánh (ngựa xe như nước, áo quần như nêm), đảo ngữ và cách chọn màu sắc hài hòa (xanh của cỏ, trắng của hoa lê).
- Kết cấu theo trình tự thời gian cuộc du xuân, mạch cảm xúc tự nhiên.
- Nguyễn Du tiếp thu ý thơ cổ Trung Quốc (“Phương thảo liên thiên bích, Lê chi sổ điểm hoa”) nhưng thêm chi tiết “xanh tận chân trời” và đặt chữ “trắng” lên trước, làm bức tranh có chiều sâu không gian và điểm nhấn màu sắc rõ hơn.
Dàn ý chi tiết phân tích đoạn trích Cảnh ngày xuân
Mở bài
- Giới thiệu Nguyễn Du, đại thi hào dân tộc, và Truyện Kiều, kiệt tác của văn học Việt Nam.
- Giới thiệu đoạn trích: nằm sau đoạn tả chị em Thúy Kiều, vẽ nên bức tranh xuân và lễ hội tiết Thanh minh tươi đẹp.
Thân bài
- Khung cảnh mùa xuân (4 câu đầu):
- Thời gian: tháng ba mùa xuân, ngày trôi nhanh như thoi đưa, chim én rộn ràng.
- Không gian: thảm cỏ non trải tới chân trời, khoáng đạt, mênh mông.
- Màu sắc: nền xanh của cỏ, điểm trắng của hoa lê, hài hòa, thanh khiết; chữ “điểm” làm cảnh sinh động.
- Chỉ bốn câu thơ đã gợi một mùa xuân mới mẻ, tinh khôi, giàu sức sống.
- Cảnh lễ hội trong tiết Thanh minh (8 câu tiếp):
- Hai hoạt động: lễ tảo mộ và hội đạp thanh.
- Các danh từ (yến anh, chị em, tài tử, giai nhân), động từ (sắm sửa, dập dìu), tính từ (gần xa, nô nức) gợi không khí đông vui, rộn ràng.
- Ẩn dụ “nô nức yến anh”, so sánh “ngựa xe như nước, áo quần như nêm” gợi dòng người tấp nập.
- Hình ảnh “thoi vàng vó”, “tro tiền giấy” gợi nét văn hóa thờ cúng tổ tiên.
- Cảnh chị em Thúy Kiều ra về (6 câu cuối):
- Thời gian chuyển về chiều, “tà tà bóng ngả về tây”; không khí lễ hội lắng dần.
- Cảnh vẫn thanh dịu nhưng nhuốm buồn: dòng nước “nao nao”, dịp cầu “nho nhỏ”.
- Các từ láy “thơ thẩn”, “thanh thanh”, “nao nao” vừa tả cảnh vừa tả tâm trạng bâng khuâng, xao xuyến, như dự cảm điều sắp đến.
- Đặc sắc nghệ thuật: ngôn ngữ giàu chất tạo hình, từ láy, bút pháp tả cảnh ngụ tình, kết cấu theo thời gian.
Kết bài
- Khẳng định giá trị đoạn trích: bức tranh xuân đẹp, trong sáng; tài năng tả cảnh bậc thầy của Nguyễn Du.
- Nêu cảm nghĩ riêng về vẻ đẹp của mùa xuân và văn hóa lễ hội truyền thống.
Đoạn văn mẫu phân tích bốn câu thơ đầu
Chỉ với bốn câu thơ lục bát, Nguyễn Du đã mở ra một mùa xuân vừa rộng lớn vừa tinh khôi. Câu thơ đầu tiên gợi cả không gian lẫn thời gian: trên bầu trời, những cánh én chao liệng qua lại như con thoi trên khung cửi, còn ngày xuân thì cứ thế trôi nhanh. Câu thứ hai cho biết “thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi”, tức mùa xuân đã sang tháng thứ ba, ánh nắng vẫn ấm áp nhưng thời gian không chờ đợi ai. Hai câu sau là một bức họa thật sự: nền là thảm cỏ non trải ra xa đến tận chân trời, trên nền xanh ấy điểm xuyết vài bông lê trắng. Chữ “tận” làm không gian như giãn rộng, còn chữ “trắng” đặt trước “điểm” khiến màu hoa nổi bật, sáng lên giữa sắc xanh. Màu xanh tươi non và màu trắng tinh khiết hòa vào nhau, gợi cảm giác trong trẻo, nhẹ nhàng mà đầy sức sống. Đọc bốn câu thơ, ta cảm được cái tài “tả ít gợi nhiều” của Nguyễn Du: không cần kể ra muôn hoa nghìn sắc, chỉ vài nét chấm phá đã đủ làm hiện lên cả một mùa xuân.
Ghi nhớ nhanh
| Mục | Nội dung cần nhớ |
|---|---|
| Tác giả | Nguyễn Du (1765 – 1820), hiệu Thanh Hiên, quê Tiên Điền, Nghi Xuân, Hà Tĩnh |
| Xuất xứ | Câu 39 – 56, phần Gặp gỡ và đính ước của Truyện Kiều |
| Thể thơ | Lục bát |
| Bố cục | 3 phần: 4 câu – 8 câu – 6 câu |
| Chủ đề | Thiên nhiên, lễ hội mùa xuân tươi đẹp và tâm trạng con người |
| Nghệ thuật | Tả cảnh ngụ tình, từ láy, ẩn dụ, so sánh, ngôn ngữ giàu hình ảnh |
Câu hỏi thường gặp
Cảnh ngày xuân nằm ở vị trí nào trong Truyện Kiều?
Đoạn trích gồm 18 câu, từ câu 39 đến câu 56, thuộc phần Gặp gỡ và đính ước, ngay sau đoạn tả tài sắc chị em Thúy Kiều.
Bố cục đoạn trích Cảnh ngày xuân gồm mấy phần?
Gồm 3 phần: 4 câu đầu tả khung cảnh mùa xuân, 8 câu tiếp tả lễ hội tiết Thanh minh, 6 câu cuối tả cảnh chị em Thúy Kiều du xuân trở về.
Phương thức biểu đạt chính của Cảnh ngày xuân là gì?
Phương thức chính là miêu tả, kết hợp với tự sự và biểu cảm.
Lễ tảo mộ và hội đạp thanh là gì?
Tảo mộ là đi viếng, sửa sang mộ người thân; đạp thanh là đi chơi xuân nơi đồng quê, giẫm lên cỏ xanh. Cả hai diễn ra trong tiết Thanh minh.
Những từ láy nào trong đoạn trích vừa tả cảnh vừa tả tình?
Các từ tà tà, thơ thẩn, thanh thanh, nao nao, nho nhỏ vừa tả cảnh chiều xuân vừa gợi tâm trạng bâng khuâng, xao xuyến của chị em Kiều.