Trả lời nhanh
Ai đã đặt tên cho dòng sông? là bút kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường, viết tại Huế ngày 4/1/1981, in trong tập bút kí cùng tên năm 1986. Tác phẩm khám phá vẻ đẹp sông Hương từ ba góc nhìn: địa lí (hành trình từ thượng nguồn về Huế), lịch sử và văn hoá – thi ca. Qua đó, tác giả bày tỏ tình yêu, niềm tự hào về Huế và đất nước bằng lối viết vừa trí tuệ vừa trữ tình.
Tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường
Tiểu sử
- Sinh năm 1937 tại Huế, quê gốc ở huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, gắn bó gần trọn cuộc đời với Huế.
- Tốt nghiệp Đại học Sư phạm Sài Gòn, sau đó học cử nhân Triết học ở Huế; từng dạy học tại Trường Quốc Học Huế.
- Tham gia phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên ở các đô thị miền Nam, sau đó lên chiến khu tham gia kháng chiến chống Mĩ.
- Sau năm 1975, ông hoạt động văn nghệ ở Bình Trị Thiên, từng làm chủ biên tạp chí Cửa Việt.
- Ông được trao Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2007.
Phong cách nghệ thuật
Hoàng Phủ Ngọc Tường là một trong những cây bút kí hàng đầu của văn học Việt Nam hiện đại. Nét riêng của ông là sự kết hợp giữa chất trí tuệ và chất trữ tình: vốn hiểu biết rộng về triết học, lịch sử, địa lí, văn hoá được hoà vào cảm xúc của một cái tôi say đắm, tài hoa. Văn ông có lối hành văn hướng nội, câu văn dài, nhiều tầng liên tưởng và giàu hình ảnh.
Tác phẩm tiêu biểu
| Thể loại | Tác phẩm |
|---|---|
| Bút kí | Ngôi sao trên đỉnh Phu Văn Lâu (1971), Rất nhiều ánh lửa (1979), Ai đã đặt tên cho dòng sông? (1986), Hoa trái quanh tôi, Ngọn núi ảo ảnh |
| Thơ | Người hái phù dung |
Tìm hiểu chung về tác phẩm
Hoàn cảnh sáng tác và xuất xứ
Bài kí được viết tại Huế ngày 4/1/1981, là bài kí tiêu biểu nhất trong tập Ai đã đặt tên cho dòng sông? xuất bản năm 1986. Văn bản từng được học trong Ngữ văn 12 chương trình cũ và hiện được chọn học trong Ngữ văn 11 bộ Chân trời sáng tạo.
Thể loại và phương thức biểu đạt
Tác phẩm thuộc thể bút kí. Phương thức biểu đạt chính là biểu cảm, kết hợp miêu tả, tự sự và nghị luận. Cái tôi tác giả hiện diện rõ qua cảm xúc, suy tưởng và vốn tri thức được huy động trong từng đoạn văn.
Ý nghĩa nhan đề
Nhan đề là một câu hỏi tu từ, bày tỏ sự ngạc nhiên, ngưỡng mộ trước vẻ đẹp của dòng sông và gợi niềm biết ơn với những người đã đặt cho nó cái tên đẹp như vậy. Câu hỏi được trả lời bằng một huyền thoại ở cuối bài: người dân hai bên bờ đã nấu nước trăm loài hoa đổ xuống sông để dòng nước mãi thơm. Như vậy, tên sông Hương là kết tinh của tình yêu và văn hoá con người xứ Huế.
Bố cục
- Phần 1 (từ đầu đến “…dưới chân núi Kim Phụng”): sông Hương ở thượng nguồn, gắn với dãy Trường Sơn.
- Phần 2 (tiếp theo đến “…quê hương xứ sở”): sông Hương ở đồng bằng, ngoại vi và trong lòng thành phố Huế.
- Phần 3 (còn lại): sông Hương trong lịch sử dân tộc, trong đời sống văn hoá và thi ca.
Tóm tắt ngắn
Bắt nguồn từ đại ngàn Trường Sơn, sông Hương mang vẻ đẹp mãnh liệt, hoang dại rồi được rừng già chế ngự để trở nên dịu dàng khi về đồng bằng. Dòng sông uốn lượn qua những đồi thông, lăng tẩm, đổi màu theo giờ trong ngày, đến Huế thì vui tươi hẳn lên và chảy thật chậm như lưu luyến. Rời thành phố, sông còn ngoặt lại một lần để chào biệt. Không chỉ đẹp, sông Hương còn chứng kiến những trang sử vẻ vang của dân tộc và là nguồn cảm hứng bất tận của âm nhạc, thi ca. Bài kí khép lại bằng huyền thoại về cái tên thơm của dòng sông.
Hành trình của sông Hương qua ngòi bút Hoàng Phủ Ngọc Tường
| Chặng | Hình ảnh nổi bật | Vẻ đẹp được khắc họa |
|---|---|---|
| Thượng nguồn | “bản trường ca của rừng già”, cô gái Di-gan phóng khoáng | Mãnh liệt, hoang dại mà cũng dịu dàng, say đắm; rừng già chế ngự để sông trở thành người mẹ phù sa của vùng văn hoá xứ sở |
| Đồng bằng, ngoại vi Huế | Người gái đẹp ngủ mơ màng được người tình đánh thức; dòng sông chuyển dòng liên tục, đổi màu theo buổi | Mềm mại, biến ảo, trầm mặc khi chảy qua đồi thông, lăng tẩm |
| Trong lòng Huế | Dòng chảy chậm như một điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế | Vui tươi, thơ mộng, gắn bó trọn vẹn với một thành phố duy nhất |
| Rời Huế | Dòng sông ngoặt về phía thành phố lần cuối, được ví như nàng Kiều trở lại tìm Kim Trọng | Vương vấn, chung tình, kín đáo trong tình yêu |
Điểm đặc sắc là tác giả không tả sông như một đối tượng địa lí vô tri. Ông “nhân hoá” toàn bộ hành trình thành câu chuyện của một người con gái: hoang dại khi còn ở rừng, mơ màng khi về đồng bằng, rạng rỡ khi gặp người tình và quyến luyến khi chia tay. Nhờ vậy, mỗi đoạn tả cảnh cũng là một trạng thái tâm hồn.
Sông Hương trong lịch sử và văn hoá
Với lịch sử dân tộc
Tác giả lần theo những trang sử gắn với dòng sông: trong Dư địa chí của Nguyễn Trãi, sông mang tên Linh Giang, là dòng sông biên thùy của đất nước thời xa xưa; thế kỉ XVIII, sông soi bóng kinh thành Phú Xuân của người anh hùng Nguyễn Huệ; sông còn chứng kiến các cuộc khởi nghĩa thế kỉ XIX, Cách mạng tháng Tám và cuộc Tổng tiến công Mậu Thân năm 1968. Sông Hương vì thế là “dòng sông sử thi”, mang vẻ đẹp của một chứng nhân anh hùng.
Với âm nhạc và thi ca
Theo tác giả, nền âm nhạc cổ điển Huế được sinh thành trên mặt nước dòng sông này, gắn với những đêm ca Huế trên thuyền. Sông Hương cũng không bao giờ lặp lại mình trong cảm hứng của các thi nhân: khi thì là dòng sông trắng – lá cây xanh trong thơ Tản Đà, khi hùng tráng như kiếm dựng trời xanh dưới ngòi bút Cao Bá Quát, khi mang nỗi hoài cổ của Bà Huyện Thanh Quan, khi là sức mạnh phục sinh tâm hồn trong thơ Tố Hữu.
Với đời thường
Sông Hương được ví như người con gái dịu dàng của đất nước, vừa đằm thắm trong đời thường vừa biết hi sinh khi Tổ quốc cần. Sự gắn bó ấy làm nên vẻ đẹp “có chiều sâu” của dòng sông, đúng như phong vị trầm lắng của Huế.
Giá trị nội dung và nghệ thuật
Giá trị nội dung
- Khắc họa vẻ đẹp phong phú, đa dạng của sông Hương ở cả phương diện tự nhiên, lịch sử và văn hoá.
- Thể hiện tình yêu tha thiết, niềm tự hào sâu sắc của tác giả với Huế, với quê hương đất nước.
- Khẳng định giá trị của những di sản thiên nhiên và văn hoá cần được trân trọng, gìn giữ.
Giá trị nghệ thuật
- Kết hợp nhuần nhuyễn chất trí tuệ và chất trữ tình, giữa tri thức uyên bác với cảm xúc say mê.
- Nghệ thuật nhân hoá xuyên suốt, biến dòng sông thành một nhân vật có tính cách, có tâm trạng.
- Liên tưởng, so sánh độc đáo, bất ngờ: âm nhạc, hội họa, văn chương được dùng để tả sông.
- Ngôn ngữ giàu hình ảnh, nhạc điệu; câu văn dài, nhiều tầng bậc, đậm chất thơ.
Đặc trưng thể kí qua văn bản
Học văn bản này, các em cần chỉ ra được ba dấu hiệu của bút kí: chất liệu thực (dòng sông, địa danh, sự kiện lịch sử có thật), cái tôi trữ tình của người viết luôn hiện diện, và sự đan xen giữa miêu tả, tự sự với suy tưởng. Khác với truyện, kí không có cốt truyện hư cấu, sức hấp dẫn nằm ở góc nhìn và cảm xúc của tác giả.
Dàn ý phân tích tham khảo
- Mở bài: giới thiệu Hoàng Phủ Ngọc Tường, bút kí Ai đã đặt tên cho dòng sông? và vấn đề nghị luận (vẻ đẹp sông Hương hoặc phong cách tác giả).
- Thân bài:
- Sông Hương ở thượng nguồn: vẻ đẹp hai mặt mãnh liệt và dịu dàng.
- Sông Hương ở đồng bằng và trong lòng Huế: mềm mại, biến ảo, vui tươi, lưu luyến.
- Sông Hương với lịch sử và văn hoá: dòng sông sử thi, dòng sông của âm nhạc, thi ca.
- Đánh giá nghệ thuật: nhân hoá, liên tưởng, chất trí tuệ hòa cùng chất trữ tình.
- Kết bài: khẳng định giá trị tác phẩm, liên hệ trách nhiệm gìn giữ vẻ đẹp quê hương.
Câu hỏi ôn tập có gợi ý
- Vì sao tác giả gọi sông Hương ở thượng nguồn là “bản trường ca của rừng già”? Gợi ý: vì dòng chảy có nhiều tiết tấu, lúc hùng tráng dữ dội qua ghềnh thác, lúc dịu dàng say đắm, giống một bản nhạc lớn nhiều chương.
- Chi tiết so sánh sông Hương với nàng Kiều nói lên điều gì? Gợi ý: sự chung tình, vương vấn của dòng sông với Huế, cũng là tình cảm của người Huế với quê hương.
- Nhan đề dạng câu hỏi có tác dụng gì? Gợi ý: gây tò mò, bày tỏ sự ngưỡng mộ và mở đường cho huyền thoại tên sông ở kết bài, tạo kết cấu đầu cuối tương ứng.
Tài liệu liên quan
- Soạn bài Ai đã đặt tên cho dòng sông (Chân trời sáng tạo)
- Tóm tắt Ai đã đặt tên cho dòng sông
- Bố cục bài Ai đã đặt tên cho dòng sông
- Sáng tác thơ, tranh về hình tượng sông Hương
- Tác giả tác phẩm Ngữ văn 11 Chân trời sáng tạo
Câu hỏi thường gặp
Ai đã đặt tên cho dòng sông thuộc thể loại gì?
Tác phẩm thuộc thể bút kí, phương thức biểu đạt chính là biểu cảm, kết hợp miêu tả, tự sự và nghị luận.
Ai đã đặt tên cho dòng sông được viết năm nào?
Bài kí được viết tại Huế ngày 4/1/1981 và in trong tập bút kí cùng tên xuất bản năm 1986.
Sông Hương được miêu tả qua những góc nhìn nào?
Qua góc nhìn địa lí (hành trình từ thượng nguồn về Huế rồi ra biển), góc nhìn lịch sử và góc nhìn văn hoá, âm nhạc, thi ca.
Phong cách nghệ thuật của Hoàng Phủ Ngọc Tường là gì?
Ông kết hợp nhuần nhuyễn chất trí tuệ và chất trữ tình, vốn hiểu biết sâu rộng hòa với cảm xúc say đắm, lối hành văn hướng nội, giàu liên tưởng và hình ảnh.