Giải Địa lí 10 Bài 11 Chân trời sáng tạo: Thực hành đọc bản đồ khí hậu

Trả lời nhanh

Hình 11.1 chia Trái Đất thành 7 đới khí hậu: cực, cận cực, ôn đới, cận nhiệt, nhiệt đới, cận xích đạo và xích đạo. Việt Nam nằm trong đới nhiệt đới, kiểu nhiệt đới gió mùa. Bốn biểu đồ ở hình 11.2 lần lượt là nhiệt đới gió mùa (Hà Nội), ôn đới lục địa (U-lan Ba-to), ôn đới hải dương (Luân Đôn) và cận nhiệt Địa Trung Hải (Lít-bon).

Bài 11 là bài thực hành nên không có nhiều lý thuyết mới. Em cần dùng kiến thức ở các bài trước (nhiệt độ, khí áp, gió, mưa) để đọc bản đồ và biểu đồ. Bài giải dưới đây đi theo ba phần của SGK: đọc bản đồ (trang 49), phân tích biểu đồ (trang 50) và giải thích hiện tượng thời tiết (trang 51).

Kiến thức cần nhớ trước khi làm bài

  • Đới khí hậu là dải khí hậu kéo dài theo vĩ độ, hình thành chủ yếu do góc chiếu của tia sáng Mặt Trời và lượng bức xạ nhận được khác nhau theo vĩ độ.
  • Kiểu khí hậu là sự phân hoá bên trong một đới, phụ thuộc vào vị trí gần hay xa biển, dòng biển, hoàn lưu gió mùa, địa hình…
  • Biểu đồ nhiệt độ – lượng mưa: đường biểu diễn nhiệt độ, cột biểu diễn lượng mưa của 12 tháng.

Hình dưới đây giúp em hình dung thứ tự các đới từ xích đạo lên cực. Các mốc vĩ độ chỉ là ước lượng để dễ nhớ, em luôn lấy theo hình 11.1 trong SGK khi làm bài.

Sơ đồ các đới khí hậu theo vĩ độ ở Bắc bán cầu từ xích đạo đến cực
Sơ đồ minh hoạ gần đúng các đới khí hậu ở Bắc bán cầu theo vĩ độ; Nam bán cầu phân bố tương đối đối xứng.

I. Đọc bản đồ các đới và kiểu khí hậu (trang 49)

Câu hỏi: Dựa vào hình 11.1, cho biết có bao nhiêu đới khí hậu và phạm vi của chúng; trong các đới có những kiểu khí hậu nào; Việt Nam thuộc đới và kiểu khí hậu nào.

1. Số đới khí hậu và phạm vi

Có 7 đới khí hậu. Các đới đối xứng tương đối qua xích đạo, trừ đới cận cực chủ yếu thể hiện rõ ở Bắc bán cầu vì Nam bán cầu phần lớn là đại dương và châu Nam Cực.

Đới khí hậu Phạm vi (ước lượng theo vĩ độ) Các kiểu khí hậu thường gặp trên hình
Cực Từ khoảng 70° đến cực (cả hai bán cầu) Khí hậu cực (băng giá quanh năm)
Cận cực Khoảng 60°–70°B Khí hậu cận cực
Ôn đới Khoảng 40°–60° (hai bán cầu) Ôn đới lục địa, ôn đới gió mùa, ôn đới hải dương
Cận nhiệt Khoảng 25°–40° (hai bán cầu) Cận nhiệt lục địa, cận nhiệt hải dương, cận nhiệt Địa Trung Hải
Nhiệt đới Khoảng 10°–30° (hai bán cầu) Nhiệt đới lục địa, nhiệt đới gió mùa
Cận xích đạo Khoảng 5°–20° (hai bán cầu) Cận xích đạo gió mùa
Xích đạo Khoảng 10°B – 10°N Khí hậu xích đạo

Lưu ý: ranh giới các đới trên bản đồ không phải đường vĩ tuyến thẳng tắp, nhất là khi đi qua lục địa và đại dương. Vì vậy các con số trong bảng chỉ là khoảng gần đúng. Nếu giáo viên yêu cầu ghi chính xác, em đối chiếu với thang vĩ độ ở rìa hình 11.1.

2. Việt Nam thuộc đới và kiểu khí hậu nào?

Việt Nam nằm trong đới khí hậu nhiệt đới, kiểu nhiệt đới gió mùa. Lãnh thổ nằm gần chí tuyến Bắc nên quanh năm nhận nhiều nhiệt. Vị trí ở rìa đông bán đảo Đông Dương, giáp Biển Đông, lại chịu tác động của gió mùa mùa đông và mùa hạ nên nhiệt độ, lượng mưa thay đổi rõ theo mùa.

Mẹo nhớ thứ tự các đới

Đọc từ xích đạo lên cực: Xích đạo – Cận xích đạo – Nhiệt đới – Cận nhiệt – Ôn đới – Cận cực – Cực. Em chỉ cần nhớ nguyên tắc: càng xa xích đạo, càng lạnh; các kiểu “lục địa” khô và biên độ nhiệt lớn, các kiểu “hải dương” ẩm và ôn hoà.

II. Phân tích biểu đồ nhiệt độ, lượng mưa (trang 50)

1. Xác định đới khí hậu của từng địa điểm

Địa điểm Kiểu khí hậu Đới khí hậu
Hà Nội (Việt Nam) Nhiệt đới gió mùa Nhiệt đới
U-lan Ba-to (Mông Cổ) Ôn đới lục địa Ôn đới
Luân Đôn (Anh) Ôn đới hải dương Ôn đới
Lít-bon (Bồ Đào Nha) Cận nhiệt Địa Trung Hải Cận nhiệt

Cách làm: tìm tên địa điểm (hoặc toạ độ) trên hình 11.1, xem điểm đó nằm trong dải màu nào, rồi đọc tên đới và kiểu ở bảng chú giải.

2. Cách đọc một biểu đồ nhiệt độ – lượng mưa

Em đọc theo bốn bước để không bỏ sót ý. Hình dưới là biểu đồ minh hoạ (số liệu tự đặt, không phải của địa điểm cụ thể nào).

Biểu đồ nhiệt độ và lượng mưa minh hoạ với đường nhiệt độ và cột lượng mưa 12 tháng
Biểu đồ nhiệt độ – lượng mưa minh hoạ (số liệu tự đặt): đường biểu diễn nhiệt độ, cột biểu diễn lượng mưa.
  1. Nhiệt độ: tìm tháng cao nhất, tháng thấp nhất, tính biên độ nhiệt năm = nhiệt độ tháng cao nhất – nhiệt độ tháng thấp nhất; ước nhiệt độ trung bình năm.
  2. Lượng mưa: cộng ước lượng 12 cột để có tổng lượng mưa năm; xác định các tháng mưa nhiều, tháng mưa ít.
  3. Chế độ mưa: mưa quanh năm hay theo mùa; mùa nào mưa nhiều (hè hay đông).
  4. Kết luận: gắn với kiểu khí hậu và giải thích ngắn.

3. Điền bảng phân tích nhiệt độ và lượng mưa

Các số liệu dưới đây là giá trị xấp xỉ đọc từ biểu đồ, em có thể lệch vài đơn vị so với hình trong sách, miễn là nhận xét đúng xu hướng.

Địa điểm Nhiệt độ Lượng mưa
Hà Nội Trung bình năm khoảng 23–24°C. Tháng 1 thấp nhất (khoảng 16–17°C), tháng 6, 7 cao nhất (gần 29°C). Biên độ khoảng 12–13°C. Tổng khoảng 1 600–1 700 mm. Mưa nhiều từ tháng 5 đến tháng 9, mưa ít vào các tháng mùa đông (tháng 12 đến tháng 2).
U-lan Ba-to Trung bình năm quanh 0°C. Tháng 1 rất lạnh (khoảng –20°C), tháng 7 khoảng 16–17°C. Biên độ rất lớn, khoảng 36–38°C. Ít, khoảng 250 mm/năm, tập trung vào mùa hạ (tháng 6 đến tháng 8), mùa đông gần như khô.
Luân Đôn Trung bình năm khoảng 11°C. Tháng 1 khoảng 4–5°C, tháng 7 khoảng 17–18°C. Biên độ khoảng 13°C, mùa đông không quá lạnh. Khoảng 600–700 mm, mưa quanh năm tương đối đều.
Lít-bon Trung bình năm khoảng 17°C. Tháng 1 khoảng 11–12°C, tháng 7 khoảng 22–23°C. Biên độ khoảng 11°C. Khoảng 700 mm, mưa chủ yếu từ thu sang đông; mùa hạ khô hạn rõ rệt.

4. Giải thích vì sao có sự khác nhau

  • Hà Nội: nóng ẩm, mưa nhiều vào mùa hạ do gió mùa Tây Nam, Đông Nam mang ẩm từ biển vào; mùa đông lạnh và ít mưa do gió mùa Đông Bắc khô lạnh ở đầu mùa.
  • U-lan Ba-to: nằm sâu trong lục địa, xa biển nên đất liền nóng lên, lạnh đi rất nhanh, biên độ nhiệt lớn; ít hơi ẩm nên mưa ít.
  • Luân Đôn: gần Đại Tây Dương, có gió tây ôn đới và dòng biển nóng Bắc Đại Tây Dương nên mùa đông ấm hơn cùng vĩ độ, mùa hè mát, mưa quanh năm.
  • Lít-bon: mùa hạ chịu ảnh hưởng áp cao cận nhiệt nên khô nóng; mùa đông áp cao dịch chuyển xuống thấp, gió tây mang mưa vào, nên mưa tập trung mùa đông.

Phân biệt nhanh hai kiểu ôn đới trong bài

Tiêu chí Ôn đới lục địa (U-lan Ba-to) Ôn đới hải dương (Luân Đôn)
Mùa đông Rất lạnh, nhiệt độ âm sâu Ấm hơn, nhiệt độ dương
Biên độ nhiệt Rất lớn Nhỏ hơn nhiều
Lượng mưa Ít, mưa tập trung mùa hạ Nhiều hơn, mưa quanh năm

III. Giải thích một số hiện tượng thời tiết (trang 51)

Câu hỏi yêu cầu thu thập thông tin về một số hiện tượng như sương, mưa đá rồi viết báo cáo ngắn. Em có thể trình bày theo gợi ý sau và diễn đạt lại bằng lời của mình.

1. Sương

  • Sương móc: các giọt nước nhỏ đọng trên lá, ngọn cỏ vào sáng sớm. Ban đêm trời quang, ít gió, bề mặt vật thể toả nhiệt nên lạnh đi, nhiệt độ xuống thấp hơn điểm sương. Hơi nước trong không khí sát đó ngưng tụ thành giọt.
  • Sương mù: các hạt nước li ti lơ lửng sát mặt đất, làm tầm nhìn ngang giảm xuống dưới 1 km. Thường gặp khi không khí ẩm bị làm lạnh (đêm lặng gió, không khí ẩm trượt qua bề mặt lạnh) hoặc khi không khí lạnh đi qua mặt nước ấm.
  • Sương muối: xuất hiện khi nhiệt độ sát mặt đất xuống dưới 0°C, hơi nước đóng băng trực tiếp thành các tinh thể băng trắng bám trên cây cỏ. Ở nước ta hiện tượng này thường gặp ở vùng núi cao phía Bắc vào các đợt rét đậm, có thể làm hại hoa màu.

2. Mưa đá

  • Là gì: mưa dưới dạng các hạt hoặc cục băng có kích thước khác nhau.
  • Nguyên nhân: trong những đám mây đối lưu phát triển rất mạnh (mây vũ tích), dòng không khí đi lên có tốc độ lớn đưa giọt nước lên tầng có nhiệt độ rất thấp, giọt nước đóng băng. Hạt băng bị cuốn lên xuống nhiều lần, bám thêm nước và lớn dần. Khi dòng thăng không còn đỡ nổi khối băng, nó rơi xuống mặt đất.
  • Thời điểm hay gặp: lúc giao mùa, khi không khí nóng ẩm gặp không khí lạnh, đối lưu mạnh, thường kèm dông và gió giật.

Báo cáo ngắn mẫu (viết về sương mù)

“Sáng đầu đông ở nhiều vùng đồng bằng, em thấy làn sương trắng phủ kín đường làng. Đó là sương mù. Ban đêm trời quang, gió nhẹ, mặt đất mất nhiệt nhanh nên không khí sát mặt đất lạnh đi. Khi nhiệt độ hạ xuống dưới điểm sương, hơi nước ngưng tụ thành vô số giọt nhỏ lơ lửng. Khi Mặt Trời lên cao, mặt đất ấm dần, các giọt nước bốc hơi trở lại nên sương tan.”

Lỗi sai thường gặp

  • Nhầm “đới” với “kiểu” khí hậu. Ôn đới hải dương là kiểu, ôn đới là đới.
  • Kết luận khí hậu chỉ dựa vào nhiệt độ mà quên xét chế độ mưa. Lít-bon và Luân Đôn đều ấm, nhưng khác hẳn nhau ở mùa khô.
  • Tính biên độ nhiệt bằng cách lấy trung bình thay vì lấy hiệu giữa tháng nóng nhất và tháng lạnh nhất.
  • Viết sương mù và sương muối là một. Sương mù là giọt nước lơ lửng, sương muối là băng bám trên bề mặt.

Bài luyện tập có đáp án

  1. Trong bốn địa điểm của bài, nơi nào có biên độ nhiệt năm lớn nhất? Giải thích.
    Đáp án: U-lan Ba-to. Nơi này nằm sâu trong lục địa, ít chịu điều hoà của biển nên mùa đông rất lạnh, mùa hạ khá ấm.
  2. Một địa điểm có nhiệt độ tháng 1 là 11°C, tháng 7 là 23°C; mưa tập trung từ tháng 10 đến tháng 3, mùa hạ khô. Địa điểm đó có kiểu khí hậu nào?
    Đáp án: cận nhiệt Địa Trung Hải, vì mùa đông ấm có mưa, mùa hạ nóng khô.
  3. (Ví dụ tự đặt) Một trạm có tháng nóng nhất 28°C, tháng lạnh nhất –12°C; mưa cả năm 240 mm, trong đó ba tháng hè có 180 mm. Tính biên độ nhiệt và tỉ lệ mưa mùa hè.
    Đáp án: biên độ = 28 – (–12) = 40°C; tỉ lệ mưa mùa hè = 180 : 240 = 75%. Số liệu này phù hợp với khí hậu ôn đới lục địa.

Xem thêm các bài liên quan

Câu hỏi thường gặp

Trên Trái Đất có bao nhiêu đới khí hậu?

Theo hình 11.1 trong bài, có 7 đới khí hậu: cực, cận cực, ôn đới, cận nhiệt, nhiệt đới, cận xích đạo và xích đạo.

Việt Nam thuộc đới và kiểu khí hậu nào?

Việt Nam nằm trong đới khí hậu nhiệt đới, kiểu nhiệt đới gió mùa: nóng ẩm, mưa nhiều và có sự phân hoá theo mùa do gió mùa.

Làm sao phân biệt ôn đới lục địa với ôn đới hải dương trên biểu đồ?

Ôn đới lục địa có mùa đông rất lạnh, biên độ nhiệt lớn, mưa ít và tập trung mùa hạ. Ôn đới hải dương có mùa đông ấm hơn, biên độ nhỏ, mưa nhiều và phân bố khá đều quanh năm.

Biên độ nhiệt năm được tính thế nào?

Biên độ nhiệt năm bằng nhiệt độ trung bình tháng cao nhất trừ nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất trong năm.