Trả lời nhanh
Bản vẽ nhà là bản vẽ kĩ thuật dùng để thiết kế và thi công ngôi nhà. Nội dung của bản vẽ nhà gồm các hình biểu diễn (mặt bằng, mặt đứng, mặt cắt) và các số liệu xác định hình dạng, kích thước, bố cục ngôi nhà. Muốn đọc bản vẽ, ta đi theo thứ tự: khung tên, hình biểu diễn, kích thước, các bộ phận.
1. Bản vẽ nhà là gì?
Trước khi xây một ngôi nhà, kiến trúc sư phải vẽ ra “ngôi nhà trên giấy”. Người thợ xây nhìn vào đó để biết xây tường ở đâu, đặt cửa chỗ nào, mái cao bao nhiêu. Bản vẽ ấy gọi là bản vẽ nhà.
Bản vẽ nhà thuộc nhóm bản vẽ kĩ thuật, được dùng trong hai việc: thiết kế và thi công xây dựng. Cũng như bản vẽ chi tiết hay bản vẽ lắp ở các bài trước, bản vẽ nhà tuân theo những quy ước chung nên ai biết đọc cũng hiểu như nhau. Bạn có thể ôn lại phần trước ở bài bản vẽ lắp qua Lý thuyết Bài 4: Bản vẽ lắp.
2. Nội dung của bản vẽ nhà
Một bản vẽ nhà đầy đủ có hai nhóm thông tin chính:
- Các hình biểu diễn: mặt bằng, mặt đứng, mặt cắt (có thể có thêm phối cảnh).
- Các số liệu: kích thước và những ghi chú xác định hình dạng, độ lớn, bố cục của ngôi nhà (kèm khung tên, tỉ lệ).
2.1. Mặt đứng
Mặt đứng là hình chiếu vuông góc của mặt ngoài ngôi nhà lên mặt phẳng hình chiếu đứng hoặc mặt phẳng hình chiếu cạnh. Nó cho ta thấy hình dạng bên ngoài: kiểu mái, vị trí cửa nhìn từ ngoài, chiều cao các phần của nhà.
Hiểu đơn giản: bạn đứng trước nhà, nhìn thẳng vào một mặt tường rồi vẽ lại những gì thấy.
2.2. Mặt bằng
Mặt bằng là hình chiếu vuông góc của phần còn lại của ngôi nhà sau khi tưởng tượng cắt bỏ phần phía trên (mái) bằng một mặt phẳng nằm ngang. Hình này diễn tả vị trí, kích thước của tường, vách, cửa đi, cửa sổ, các thiết bị, đồ đạc… Có thể coi đây là “bản đồ” các phòng khi nhìn từ trên xuống.
Mặt bằng là hình quan trọng nhất của bản vẽ nhà, vì từ đó biết nhà có mấy phòng và sắp xếp ra sao.
2.3. Mặt cắt
Mặt cắt là hình cắt có mặt phẳng cắt song song với mặt phẳng hình chiếu đứng hoặc mặt phẳng hình chiếu cạnh. Hình này biểu diễn các bộ phận và kích thước của ngôi nhà theo chiều cao: chiều cao tầng, độ cao cửa, độ dốc mái, nền, móng…
2.4. Bảng so sánh nhanh ba hình biểu diễn
| Hình | Cách có được | Cho biết |
|---|---|---|
| Mặt đứng | Chiếu mặt ngoài nhà lên mặt phẳng đứng hoặc cạnh | Hình dạng bên ngoài |
| Mặt bằng | Cắt bỏ mái bằng mặt phẳng nằm ngang rồi chiếu xuống | Vị trí, kích thước tường, cửa, phòng, đồ đạc |
| Mặt cắt | Cắt nhà bằng mặt phẳng song song với mặt phẳng chiếu đứng hoặc cạnh | Các bộ phận theo chiều cao |
Mẹo nhớ: “Đứng thì nhìn ngoài – Bằng thì nhìn trong – Cắt thì xem cao”. Mặt đứng nhìn bên ngoài, mặt bằng xem bố trí bên trong, mặt cắt xem chiều cao.

3. Kí hiệu quy ước một số bộ phận của ngôi nhà
Không thể vẽ cửa, cầu thang hay thiết bị đúng như thật trên bản vẽ có tỉ lệ nhỏ. Vì vậy người ta dùng kí hiệu quy ước cho các bộ phận thường gặp, được trình bày ở Bảng 5.1 trong sách giáo khoa:
- cửa đi một cánh, cửa đi hai cánh;
- cửa sổ đơn, cửa sổ kép;
- cầu thang (trên mặt bằng) và một số thiết bị khác.
Khi học, đừng cố nhớ máy móc từng nét. Hãy nhìn bảng và tự hỏi: kí hiệu này giống hình ảnh thật ở chỗ nào (cánh cửa mở ra theo cung tròn, cửa sổ nằm trong bề dày tường…). Hiểu hình ảnh thì nhớ lâu hơn. Số cánh của cửa thể hiện ngay qua số nét cánh trên kí hiệu, nên đếm cánh là đếm được loại cửa.
4. Trình tự đọc bản vẽ nhà
Đọc bản vẽ nhà gồm bốn bước, theo đúng thứ tự sau:
| Bước | Nội dung cần đọc | Thông tin thu được |
|---|---|---|
| 1. Khung tên | Tên gọi ngôi nhà, tỉ lệ bản vẽ | Biết đây là nhà gì, vẽ thu nhỏ bao nhiêu lần |
| 2. Hình biểu diễn | Tên gọi các hình (mặt đứng, mặt bằng, mặt cắt) | Biết bản vẽ có những hình nào |
| 3. Kích thước | Kích thước chung; kích thước từng bộ phận | Biết nhà dài, rộng, cao bao nhiêu; từng phòng rộng bao nhiêu |
| 4. Các bộ phận | Số phòng, số cửa đi, cửa sổ, bộ phận khác | Biết cách bố trí và trang bị của ngôi nhà |
Lý do phải đọc theo thứ tự này: có tên và tỉ lệ rồi mới hiểu các hình; biết các hình rồi mới đọc kích thước; có kích thước rồi mới đếm và xác định các bộ phận chính xác.
5. Ví dụ đọc bản vẽ nhà (ví dụ tự đặt)
Giả sử có một bản vẽ nhà một tầng như hình dưới. Ta đọc theo bốn bước.

- Khung tên: nhà một tầng, tỉ lệ 1:100.
- Hình biểu diễn: hình trong bài là mặt bằng (ngoài ra bản vẽ đầy đủ còn có mặt đứng và mặt cắt).
- Kích thước: kích thước chung (dài × rộng) là 12 000 × 6 000 mm. Phòng khách 4 500 × 4 000 mm; mỗi phòng ngủ 3 750 × 4 000 mm; bếp 4 500 × 2 000 mm; vệ sinh 3 000 × 2 000 mm.
- Các bộ phận: 1 phòng khách, 2 phòng ngủ, 1 bếp, 1 nhà vệ sinh và 1 hành lang; số cửa đi và cửa sổ đếm theo kí hiệu trên mặt bằng.
Kích thước trên bản vẽ nhà thường tính bằng milimét và không ghi đơn vị. Nếu quên điều này, bạn dễ đọc 4 500 thành 4 500 m!
Đổi từ bản vẽ ra kích thước thật
Tỉ lệ 1:100 nghĩa là 1 mm trên bản vẽ ứng với 100 mm ngoài thực tế. Do đó, chiều dài nhà 12 000 mm sẽ vẽ thành 12 000 : 100 = 120 mm. Chiều rộng 6 000 mm vẽ thành 60 mm. Tuy nhiên, khi làm bài, hãy ưu tiên con số kích thước ghi trên bản vẽ, không đo bằng thước rồi nhân tỉ lệ nếu đã có số liệu.
6. Sơ đồ tóm tắt bài
- Bản vẽ nhà: bản vẽ kĩ thuật dùng khi thiết kế và thi công nhà.
- Nội dung: hình biểu diễn (mặt bằng, mặt đứng, mặt cắt) + số liệu (kích thước…).
- Kí hiệu quy ước: cửa đi, cửa sổ, cầu thang… (Bảng 5.1).
- Đọc bản vẽ: khung tên → hình biểu diễn → kích thước → các bộ phận.
7. Lỗi sai thường gặp
- Nhầm mặt bằng với hình nhìn từ trên xuống toàn bộ ngôi nhà. Mặt bằng là hình sau khi đã cắt bỏ phần mái nên thấy được tường, cửa và phòng bên trong.
- Nhầm mặt đứng với mặt cắt. Mặt đứng chỉ thấy bề ngoài; mặt cắt phải “cắt nhà ra” để thấy kết cấu theo chiều cao.
- Đọc kích thước không có đơn vị là mét. Mặc định trên bản vẽ nhà là milimét.
- Bỏ qua khung tên. Không có tỉ lệ thì dễ hiểu sai độ lớn của nhà.
- Đảo thứ tự các bước đọc khi trả lời câu hỏi “trình tự đọc bản vẽ nhà”.
8. Luyện tập có đáp án
- Bản vẽ nhà được dùng trong những công việc nào?
Đáp án: thiết kế và thi công xây dựng ngôi nhà. - Hình biểu diễn nào cho biết vị trí, kích thước tường, cửa đi, cửa sổ và đồ đạc?
Đáp án: mặt bằng (đây là hình cắt bỏ mái bằng mặt phẳng nằm ngang). - Muốn biết chiều cao tầng và độ dốc mái, ta xem hình nào?
Đáp án: mặt cắt, vì nó biểu diễn các bộ phận theo chiều cao (có thể xem thêm mặt đứng để biết hình dạng bên ngoài). - Sắp xếp đúng trình tự đọc: (a) kích thước, (b) các bộ phận, (c) khung tên, (d) hình biểu diễn.
Đáp án: c → d → a → b. - Trên bản vẽ tỉ lệ 1:50, chiều dài một phòng đo được 80 mm. Chiều dài thật là bao nhiêu?
Đáp án: 80 × 50 = 4 000 mm = 4 m. - Một mặt bằng nhà có kích thước chung 9 000 × 5 000 mm, vẽ theo tỉ lệ 1:100. Trên giấy hình chữ nhật bao ngoài có kích thước bao nhiêu?
Đáp án: 9 000 : 100 = 90 mm và 5 000 : 100 = 50 mm, tức là 90 × 50 mm.
9. Xem thêm
- Giải SGK Công nghệ 8 Bài 5: Bản vẽ nhà
- Sách bài tập Công nghệ 8 Bài 5: Bản vẽ nhà
- Lý thuyết Bài 6: Vật liệu cơ khí
- Tổng hợp lý thuyết Công nghệ 8 Kết nối tri thức
Câu hỏi thường gặp
Nội dung của bản vẽ nhà gồm những gì?
Gồm các hình biểu diễn (mặt bằng, mặt đứng, mặt cắt) và các số liệu như kích thước, tỉ lệ xác định hình dạng, kích thước, bố cục của ngôi nhà.
Mặt bằng khác mặt đứng ở điểm nào?
Mặt đứng là hình chiếu mặt ngoài ngôi nhà, cho biết hình dạng bên ngoài. Mặt bằng là hình chiếu phần còn lại sau khi cắt bỏ mái bằng mặt phẳng nằm ngang, cho biết vị trí tường, cửa, phòng và đồ đạc.
Trình tự đọc bản vẽ nhà như thế nào?
Đọc theo bốn bước: khung tên (tên nhà, tỉ lệ), hình biểu diễn, kích thước (chung và từng bộ phận), rồi các bộ phận (số phòng, số cửa đi, cửa sổ…).
Vì sao bản vẽ nhà phải dùng kí hiệu quy ước?
Vì các bộ phận như cửa, cầu thang rất nhỏ so với toàn nhà. Dùng kí hiệu quy ước giúp bản vẽ gọn, rõ và mọi người đọc đều hiểu giống nhau.