Trả lời nhanh
Truyện ngắn Chiếc lược ngà thường được chia làm 3 phần: (1) ngày phép ngắn ngủi ở quê, bé Thu không nhận cha rồi mới kịp gọi “ba” lúc chia tay; (2) anh Sáu ở khu căn cứ, nhớ con, làm chiếc lược ngà tặng con; (3) anh hi sinh, gửi lược cho bác Ba và kỷ vật đến tay con gái. Cách chia này bám theo diễn biến tình cảm cha con.
Vài nét về văn bản trước khi tìm bố cục
Chiếc lược ngà do nhà văn Nguyễn Quang Sáng viết năm 1966, khi ông đang hoạt động ở chiến trường miền Nam. Truyện kể về tình cha con của anh Sáu và bé Thu trong hoàn cảnh chiến tranh chia cắt.
Người kể chuyện là bác Ba, đồng đội và là người chứng kiến câu chuyện. Vì vậy mạch truyện không chỉ theo thời gian mà còn đi qua lời kể, hồi tưởng của một người trong cuộc. Hiểu điều này giúp em chia bố cục dễ hơn.
Bố cục của Chiếc lược ngà
Em có thể chia văn bản theo mạch sự việc thành ba phần, tương ứng ba chặng trong câu chuyện tình cha con.
| Phần | Nội dung chính | Ý nghĩa |
|---|---|---|
| Phần 1 | Anh Sáu về phép sau tám năm xa nhà. Bé Thu lạnh nhạt, bướng bỉnh, nhất định không gọi anh là “ba”. Đến lúc anh sắp lên đường, em mới bật gọi cha, ôm chặt lấy cha trong nước mắt. | Cuộc gặp đầy trớ trêu: tình cha con thật sâu nặng nhưng bị hiểu lầm vì vết sẹo trên mặt anh Sáu. |
| Phần 2 | Ở khu căn cứ, anh Sáu day dứt vì nhớ con và áy náy vì lần đánh con. Anh xin được một khúc ngà voi, tỉ mỉ làm cây lược để tặng con. | Tình phụ tử sâu sắc, thiêng liêng; chiếc lược là nơi gửi gắm tình thương và nỗi nhớ. |
| Phần 3 | Anh Sáu hi sinh trong một trận càn, kịp trao cây lược cho bác Ba nhờ chuyển cho con. Bác Ba giữ gìn kỷ vật và đưa lại cho con gái anh. | Nỗi đau chiến tranh; kỷ vật trở thành sợi dây nối cha với con, người đã mất với người ở lại. |
Lưu ý: ranh giới câu chữ giữa các phần có thể lệch đôi chút tuỳ sách và cách giảng của thầy cô. Khi làm bài, em nên nêu theo nội dung từng chặng như trên, không cần thuộc từng câu mở đầu hay kết thúc.
Phân tích ngắn từng phần
Phần 1: Ba ngày phép và nỗi đau chưa nói thành lời
Đây là phần dài nhất và có kịch tính cao nhất. Tác giả dựng tình huống nghịch lí: anh Sáu khao khát gặp con, còn đứa con lại xem anh như người xa lạ. Những hành động của Thu như hất cái trứng cá, không chịu gọi mời cơm đều rất trẻ con mà cứng đầu.
Sự “ương ngạnh” ấy lại bắt nguồn từ tình yêu với người cha trong tấm ảnh. Vì thế đến cuối phần, khi hiểu ra, Thu càng thương cha và tình cảm bộc phát càng mãnh liệt.
Phần 2: Chiếc lược ngà ra đời nơi núi rừng
Mạch truyện chuyển từ làng quê sang khu căn cứ. Không khí đang ồn ào, căng thẳng chuyển sang lắng đọng. Anh Sáu không có điều kiện làm gì cho con ngoài việc làm một cây lược nhỏ, nhưng chính việc đó cho thấy anh thương con đến mức nào: cưa từng răng lược, mài, khắc chữ tặng con.
Phần 3: Lời nhờ cậy cuối cùng
Phần kết ngắn nhưng xúc động. Trong giây phút hi sinh, điều anh Sáu nghĩ đến vẫn là đứa con và cây lược. Hành động trao lược cho bác Ba là lời gửi gắm cuối cùng, cũng là cách tác giả khẳng định: chiến tranh có thể cướp đi sự sống nhưng không xoá được tình cảm gia đình.
Mẹo nhớ bố cục nhanh
- Gặp (ngày phép) → Nhớ (làm lược) → Gửi (hi sinh, trao lược).
- Mỗi phần gắn với một địa điểm: quê nhà – khu căn cứ – trận càn và nơi trao kỷ vật.
- Chiếc lược là “sợi chỉ đỏ”: xuất hiện ở phần 2, được trao ở phần 3, gợi nhắc tình cha con từ phần 1.
Lỗi thường gặp khi trả lời
- Chỉ kể lại cốt truyện mà không nêu ý chính từng phần. Mỗi phần nên có một câu khái quát nội dung và một câu nêu ý nghĩa.
- Nhầm thứ tự: đưa việc làm lược lên trước cảnh chia tay. Thực tế anh Sáu làm lược sau khi đã xa nhà.
- Quên người kể chuyện là bác Ba, nên không nêu được vì sao truyện có lời bình, lời cảm thông của người ngoài cuộc.
Bài luyện tập
- Câu 1. Vì sao nói chi tiết bé Thu gọi “ba” và ôm chặt cha lúc chia tay là điểm nút của phần 1?
Gợi ý: Vì đó là lúc mâu thuẫn được tháo gỡ: Thu hiểu ra cha mình, tình cảm bị kìm nén suốt ba ngày bùng lên, đồng thời làm anh Sáu và mọi người xúc động. - Câu 2. Nếu chỉ chia truyện thành hai phần, em sẽ chia thế nào?
Gợi ý: Phần một là ngày phép ở quê (nơi diễn ra xung đột); phần hai là cuộc sống ở căn cứ cho đến khi anh Sáu hi sinh và gửi lược (nơi tình cảm được thể hiện qua kỷ vật). Cần nêu rõ lí do chia. - Câu 3. Nêu vai trò của phần 2 đối với toàn truyện.
Gợi ý: Phần này giải toả cảm giác nặng nề của phần 1, cho thấy chiều sâu tình cha con và chuẩn bị cho chi tiết chiếc lược ở phần cuối.
Ví dụ câu trả lời hoàn chỉnh
“Truyện ngắn Chiếc lược ngà có thể chia làm ba phần. Phần một kể về ba ngày phép của anh Sáu, bé Thu không nhận cha cho đến phút chia tay. Phần hai kể anh Sáu ở khu căn cứ, nhớ con và làm chiếc lược ngà tặng con. Phần ba kể anh hi sinh, trao lược cho bác Ba nhờ chuyển cho con. Ba phần nối tiếp theo diễn biến tình cảm, làm nổi bật tình cha con thiêng liêng trong chiến tranh.”
Câu hỏi thường gặp
Chiếc lược ngà chia làm mấy phần?
Cách chia phổ biến là 3 phần theo mạch sự việc: ngày phép của anh Sáu ở quê, cuộc sống và việc làm lược ở khu căn cứ, anh hi sinh và gửi lược. Một số thầy cô chia 2 phần, miễn là nêu rõ căn cứ chia.
Truyện Chiếc lược ngà có nhân vật chính nào?
Nhân vật chính là anh Sáu và bé Thu. Bác Ba là người kể chuyện và cũng là người chứng kiến, giữ kỷ vật giúp anh Sáu.
Vì sao phải nắm bố cục của Chiếc lược ngà?
Nắm bố cục giúp em tóm tắt đúng, phân tích đúng trọng tâm và làm tốt các đề nghị luận về tình cảm cha con, nghệ thuật tạo tình huống và chi tiết chiếc lược.
Chiếc lược ngà được sáng tác khi nào?
Truyện được Nguyễn Quang Sáng viết năm 1966, khi ông đang hoạt động ở chiến trường miền Nam trong kháng chiến chống Mĩ.