Trả lời nhanh
Nguyễn Du (1765–1820), tên tự Tố Như, hiệu Thanh Hiên, quê Tiên Điền, Hà Tĩnh, là đại thi hào của dân tộc. Truyện Kiều (Đoạn trường tân thanh) là truyện thơ Nôm gồm 3254 câu lục bát, viết đầu thế kỉ XIX, chia ba phần: Gặp gỡ và đính ước – Gia biến và lưu lạc – Đoàn tụ. Tác phẩm có giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc.
I. Đôi nét về tác giả Nguyễn Du
1. Gia đình và quê hương
- Nguyễn Du sinh năm 1765 tại Thăng Long, mất năm 1820 ở Huế. Tên tự là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên.
- Cha là Nguyễn Nghiễm từng làm đến chức tể tướng; anh cùng cha khác mẹ là Nguyễn Khản làm đến chức tham tụng. Đây là gia đình quan lại có truyền thống khoa bảng và văn chương.
- Quê cha ở Tiên Điền (Nghi Xuân, Hà Tĩnh), quê mẹ ở vùng Kinh Bắc (Bắc Ninh) – cái nôi của dân ca quan họ. Hai miền đất giàu văn hoá nuôi dưỡng tâm hồn ông.
2. Thời đại và cuộc đời
Nguyễn Du sống vào giai đoạn xã hội phong kiến khủng hoảng: chế độ Lê – Trịnh suy tàn, nông dân khởi nghĩa khắp nơi, tiêu biểu là phong trào Tây Sơn, sau đó nhà Nguyễn lập lại chế độ chuyên chế.
- Thời niên thiếu: sống trong cảnh giàu sang ở kinh thành, được học hành đầy đủ.
- Sau biến cố năm 1789, ông trải qua nhiều năm phiêu bạt, sống nhờ quê vợ và quê nhà.
- Năm 1802 ra làm quan cho triều Nguyễn, từng đi sứ Trung Quốc, rồi mất ở Huế năm 1820.
Cuộc đời nhiều thăng trầm, đi nhiều, thấy nhiều giúp ông hiểu sâu về nỗi khổ của con người. Đó là nền tảng của tinh thần nhân đạo trong thơ ông. Năm 1965, ông được UNESCO công nhận là Danh nhân văn hoá thế giới.
3. Sự nghiệp văn học
| Loại | Tác phẩm | Ghi nhớ |
|---|---|---|
| Chữ Hán (249 bài) | Thanh Hiên thi tập (78 bài) | Viết trước khi ra làm quan; nỗi cô đơn, bế tắc |
| Nam trung tạp ngâm (40 bài) | Viết trong thời gian làm quan; buồn đau, quan sát cuộc đời | |
| Bắc hành tạp lục (131 bài) | Viết khi đi sứ; ca ngợi nhân cách cao đẹp, phê phán xã hội, cảm thông người nhỏ bé | |
| Chữ Nôm | Truyện Kiều (Đoạn trường tân thanh) | Kiệt tác, 3254 câu lục bát |
| Văn chiêu hồn | Thể song thất lục bát, thương xót những thân phận nhỏ bé |
Mẹo nhớ số bài chữ Hán: 78 – 40 – 131 theo đúng thứ tự thời gian (trước khi làm quan, lúc làm quan, lúc đi sứ). Cộng lại ra 249.
II. Đôi nét về tác phẩm Truyện Kiều
1. Hoàn cảnh sáng tác, thể loại
- Sáng tác vào đầu thế kỉ XIX. Thời điểm cụ thể còn có nhiều ý kiến khác nhau nên khi làm bài chỉ cần ghi “đầu thế kỉ XIX”.
- Nguyễn Du dựa vào cốt truyện Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc) nhưng sáng tạo rất nhiều: đổi thể loại từ văn xuôi sang thơ lục bát, đào sâu nội tâm nhân vật, thêm cảnh sắc thiên nhiên và tấm lòng thương người.
- Thể loại: truyện thơ Nôm, 3254 câu thơ lục bát.
2. Bố cục và tóm tắt cốt truyện
- Gặp gỡ và đính ước: Thúy Kiều là người con gái tài sắc vẹn toàn trong một gia đình trung lưu. Trong buổi du xuân, nàng gặp Kim Trọng, hai người yêu nhau và thề nguyền đính ước.
- Gia biến và lưu lạc: Gia đình bị vu oan, Kiều bán mình chuộc cha, bị Mã Giám Sinh, Tú Bà đẩy vào lầu xanh. Nàng lần lượt gặp Thúc Sinh, chịu đòn ghen của Hoạn Thư, nương nhờ cửa Phật, lại bị lừa vào lầu xanh lần nữa. Sau đó Kiều gặp Từ Hải, được giúp báo ân báo oán. Từ Hải chết vì mắc mưu Hồ Tôn Hiến, Kiều nhảy xuống sông Tiền Đường và được sư Giác Duyên cứu.
- Đoàn tụ: Kiều gặp lại gia đình và Kim Trọng. Hai người nên duyên bạn bè, giữ trọn nghĩa tình.
Sơ đồ dưới đây giúp em hệ thống nhanh các ý chính.

3. Giá trị nội dung
- Giá trị hiện thực: phản ánh xã hội phong kiến bất công, đồng tiền và thế lực tàn bạo chà đạp quyền sống con người, nhất là người phụ nữ tài hoa.
- Giá trị nhân đạo: thương cảm trước nỗi đau của con người; ngợi ca tài sắc, tình yêu, khát vọng tự do, công lý; tố cáo các thế lực áp bức.
4. Giá trị nghệ thuật
- Ngôn ngữ giàu đẹp, tinh tế, chắt lọc từ tiếng nói dân gian và ngôn ngữ bác học.
- Nghệ thuật tự sự phát triển vượt bậc: kể chuyện, tả cảnh, miêu tả nội tâm nhân vật.
- Thể thơ lục bát đạt đến trình độ điêu luyện; thành công trong xây dựng nhân vật (tả người bằng ước lệ, tả tính cách và nội tâm).
III. Lỗi thường gặp khi làm bài
- Nhầm tên gọi: Truyện Kiều còn gọi là Đoạn trường tân thanh. Đừng nhầm với “Kim Vân Kiều truyện” – tác phẩm của Trung Quốc làm nguồn tham khảo.
- Viết “Truyện Kiều là sáng tác hoàn toàn của Nguyễn Du” hoặc “chỉ là dịch lại”. Cả hai đều chưa đúng, phải nói là sáng tạo trên cơ sở cốt truyện có sẵn.
- Chỉ nêu giá trị nhân đạo mà quên giá trị hiện thực (hoặc ngược lại).
- Nhầm bố cục: ba phần theo diễn biến cuộc đời Kiều, không phải theo số câu thơ.
IV. Luyện tập nhanh
- Câu hỏi: Kể tên ba tập thơ chữ Hán của Nguyễn Du.
Đáp án: Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục. - Câu hỏi: Nguyễn Du đã sáng tạo những gì so với Kim Vân Kiều truyện?
Đáp án: Chuyển thể sang thơ lục bát bằng chữ Nôm; tăng chất trữ tình, miêu tả nội tâm; thể hiện tấm lòng thương xót con người; nâng tầm giá trị hiện thực và nhân đạo. - Câu hỏi: Em hãy tóm tắt Truyện Kiều trong 3 câu.
Gợi ý: Mỗi câu ứng với một phần: gặp Kim Trọng và đính ước; gia biến, bán mình, mười lăm năm lưu lạc; cuối cùng đoàn tụ.
V. Các đoạn trích học trong chương trình
Sau khi nắm tổng quan, em có thể ôn các đoạn trích cụ thể:
- Chị em Thúy Kiều
- Cảnh ngày xuân
- Kiều ở lầu Ngưng Bích
- 25 câu trắc nghiệm Truyện Kiều
- Văn mẫu kể tóm tắt lại Truyện Kiều
Câu hỏi thường gặp
Truyện Kiều có bao nhiêu câu thơ và thuộc thể loại nào?
Truyện Kiều có 3254 câu thơ lục bát, thuộc thể loại truyện thơ Nôm.
Truyện Kiều của Nguyễn Du dựa trên tác phẩm nào?
Dựa trên cốt truyện Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc), nhưng Nguyễn Du sáng tạo rất nhiều về thể loại, nội tâm nhân vật và tư tưởng nhân đạo.
Bố cục Truyện Kiều gồm mấy phần?
Ba phần: Gặp gỡ và đính ước; Gia biến và lưu lạc; Đoàn tụ.
Truyện Kiều có những giá trị nội dung nào?
Giá trị hiện thực (phản ánh xã hội bất công, chà đạp quyền sống con người) và giá trị nhân đạo (thương cảm, ngợi ca tài sắc, khát vọng tự do, tố cáo thế lực áp bức).