Lý thuyết Lịch sử 10 Bài 10 (KNTT): Văn minh Đông Nam Á cổ – trung đại

Trả lời nhanh

Văn minh Đông Nam Á thời cổ – trung đại phát triển qua ba giai đoạn: hình thành và bước đầu phát triển (từ đầu Công nguyên đến thế kỉ VII), phát triển rực rỡ (thế kỉ VII – XV) và chuyển biến quan trọng (thế kỉ XVI – XIX). Thành tựu tiêu biểu gồm tín ngưỡng bản địa, các tôn giáo lớn, chữ viết riêng, văn học dân gian và văn học viết, kiến trúc – điêu khắc đặc sắc.

1. Hành trình phát triển của văn minh Đông Nam Á

Bài học này trả lời câu hỏi: nền văn minh của khu vực hình thành thế nào, thay đổi ra sao qua thời gian và để lại những gì? Cách dễ nhất là chia theo ba mốc thời gian.

Trục thời gian ba giai đoạn phát triển của văn minh Đông Nam Á thời cổ - trung đại
Ba giai đoạn phát triển của văn minh Đông Nam Á thời cổ – trung đại
Giai đoạn Đặc điểm chính Từ khoá cần nhớ
Từ đầu Công nguyên đến thế kỉ VII Hình thành và bước đầu phát triển. Gắn với sự ra đời của các quốc gia đầu tiên. Ảnh hưởng của văn minh Ấn Độ và Trung Hoa thể hiện rõ. Văn Lang – Âu Lạc, Phù Nam, các quốc gia ở hạ lưu sông Chao Phray-a
Thế kỉ VII – XV Phát triển rực rỡ. Gắn với các quốc gia phong kiến thịnh đạt. Tiếp thu có chọn lọc tinh hoa Ấn Độ, Trung Hoa rồi biến thành sản phẩm riêng. Thịnh đạt, chọn lọc, bản sắc
Thế kỉ XVI – XIX Có chuyển biến quan trọng. Các vương triều phong kiến suy yếu, chủ nghĩa tư bản phương Tây xâm nhập, văn minh chịu thêm ảnh hưởng phương Tây. Suy yếu, xâm nhập, phương Tây

Giai đoạn 1: hình thành và bước đầu phát triển

  • Cư dân Đông Nam Á có nền tảng là nông nghiệp lúa nước. Trên nền tảng ấy, các quốc gia sơ khai xuất hiện.
  • Giao lưu với Ấn Độ và Trung Hoa qua buôn bán, truyền đạo. Cư dân tiếp nhận nhiều yếu tố văn hoá mới nhưng chưa thay thế được văn hoá bản địa.

Giai đoạn 2: phát triển rực rỡ

  • Các quốc gia phong kiến hình thành, bộ máy nhà nước ổn định hơn, kinh tế phát triển. Nhờ vậy, đây là thời kì có nhiều công trình và tác phẩm lớn nhất.
  • Điểm mấu chốt là chữ “chọn lọc”: cư dân khu vực không sao chép nguyên mẫu mà cải biến cho hợp với đời sống của mình.

Giai đoạn 3: chuyển biến quan trọng

  • Nhiều vương triều suy yếu, các nước phương Tây tìm cách xâm nhập. Văn minh khu vực vì thế vừa giữ truyền thống vừa tiếp xúc với văn minh phương Tây.
  • Sự tiếp xúc này để lại dấu ấn trong chính trị, văn hoá, khoa học – kĩ thuật.

2. Một số thành tựu tiêu biểu

2.1. Tín ngưỡng

Trước khi tiếp nhận các tôn giáo lớn, cư dân Đông Nam Á đã có tín ngưỡng bản địa phong phú. Có thể gom thành ba nhóm:

  • Sùng bái tự nhiên: thờ thần Mặt Trời, thần Mưa, thần Sông, thần Núi… vì nông nghiệp phụ thuộc vào thiên nhiên.
  • Phồn thực: cầu mong mùa màng tươi tốt, con người sinh sôi.
  • Thờ cúng người đã mất: thờ tổ tiên, thờ các vị anh hùng, người có công với cộng đồng. Lễ hội Đền Hùng gắn với việc thờ cúng các vua Hùng là ví dụ của người Việt.

Các tín ngưỡng này không biến mất khi tôn giáo lớn du nhập. Chúng được bảo tồn và vẫn còn tồn tại đến ngày nay.

2.2. Tôn giáo

Tôn giáo Thời điểm, con đường Ảnh hưởng
Phật giáo Du nhập từ khoảng những thế kỉ đầu Công nguyên Giữ vai trò quan trọng trong đời sống chính trị, xã hội, văn hoá ở nhiều nước như Thái Lan, Lào, Cam-pu-chia
Hồi giáo Truyền bá qua hoạt động thương mại, khoảng thế kỉ XIII Hưng thịnh với các quốc gia Hồi giáo như Ma-lắc-ca, A-chê (thế kỉ XV – XVII)
Công giáo Vào Phi-líp-pin đầu thế kỉ XVI, cùng quá trình phương Tây mở rộng xâm lược Tiếp tục lan sang nhiều nước khác trong khu vực

Ngoài ra, Hin-đu giáo cũng du nhập từ Ấn Độ và có ảnh hưởng đến một số quốc gia. Nhận xét chung cần nhớ: các tôn giáo ở Đông Nam Á thời kì này cùng tồn tại và phát triển hoà hợp, không xảy ra xung đột tôn giáo lớn như ở nhiều khu vực khác.

2.3. Chữ viết

  • Giai đoạn đầu: các nước dùng chữ viết cổ của Ấn Độ (chữ Phạn, chữ Pa-li) và Trung Quốc (chữ Hán).
  • Sau đó: cư dân tự sáng tạo chữ viết để ghi ngôn ngữ của mình: chữ Chăm cổ, Khơ-me cổ, Mã Lai cổ, Miến cổ, chữ Nôm của người Việt…

Mẹo nhớ nguồn gốc: các chữ Chăm cổ, Khơ-me cổ, Mã Lai cổ, Miến cổ tạo trên cơ sở chữ Phạn của Ấn Độ; riêng chữ Nôm của người Việt dựa trên chữ Hán của Trung Quốc. Bạn có thể xem thêm cách trả lời câu hỏi này tại chữ viết Chăm cổ, Khơ-me cổ, Mã Lai cổ sáng tạo trên cơ sở nào.

2.4. Văn học

  • Văn học dân gian: phát triển trên nền văn minh lúa nước, nổi bật là thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, truyện cười, truyện ngụ ngôn, truyện thơ khuyết danh.
  • Văn học viết: ra đời khi đã có chữ viết riêng, để lại nhiều tác phẩm xuất sắc còn lưu giữ đến nay, tiêu biểu như Truyện Kiều (Việt Nam) hay sử thi Ra-ma-kien (Thái Lan, chịu ảnh hưởng của sử thi Ra-ma-ya-na của Ấn Độ nhưng được Thái hoá).

2.5. Kiến trúc và điêu khắc

Đây là lĩnh vực thể hiện rõ nhất sự tiếp thu có chọn lọc. Các công trình thường gắn với tôn giáo và quyền lực của vương triều.

Công trình Quốc gia Ghi nhớ
Ăng-co Vát Cam-pu-chia Quần thể đền thờ xây dựng ở thế kỉ XII, thời vua Xu-ri-a-vác-man II
Bô-rô-bu-đua In-đô-nê-xi-a Đền – tháp Phật giáo ở đảo Gia-va, xây khoảng thế kỉ VIII – IX
Pa-gan Mi-an-ma Quần thể hàng nghìn đền chùa, phát triển mạnh khoảng thế kỉ XI – XIII
Thạt Luổng Lào Tháp Phật giáo ở Viêng Chăn, xây dựng vào thế kỉ XVI
Thánh địa Mỹ Sơn Việt Nam Quần thể đền tháp của người Chăm

3. Vì sao nói văn minh Đông Nam Á vừa chung vừa riêng?

  • Chung: cùng nền nông nghiệp lúa nước, cùng chịu tác động của Ấn Độ và Trung Hoa, cùng có tín ngưỡng bản địa và các tôn giáo lớn.
  • Riêng: mỗi quốc gia có chữ viết, văn học, công trình mang màu sắc dân tộc. Ví dụ, Ăng-co Vát không giống Bô-rô-bu-đua, chữ Nôm khác chữ Khơ-me.

Khi làm bài tự luận, hãy dùng khung “tiếp thu – chọn lọc – sáng tạo”. Cách này giúp bạn lập luận mạch lạc và ghi điểm ở phần nhận xét.

4. Mẹo nhớ nhanh

  • Ba giai đoạn: “Hình thành – Rực rỡ – Chuyển biến” ứng với “Công nguyên đến VII – VII đến XV – XVI đến XIX”.
  • Ba nhóm tín ngưỡng: Tự nhiên – Phồn thực – Người đã mất.
  • Ba tôn giáo thường hỏi: Phật giáo (sớm nhất), Hồi giáo (XIII), Công giáo (đầu XVI, Phi-líp-pin).

5. Lỗi sai thường gặp

  • Nhầm giai đoạn “phát triển rực rỡ” (VII – XV) với giai đoạn “chuyển biến” (XVI – XIX).
  • Cho rằng chữ Nôm dựa trên chữ Phạn. Thực tế chữ Nôm dựa trên chữ Hán.
  • Nghĩ rằng tôn giáo lớn làm mất tín ngưỡng bản địa. Thực tế hai loại này tồn tại song song.
  • Gán Công giáo vào Đông Nam Á từ rất sớm. Công giáo vào Phi-líp-pin từ đầu thế kỉ XVI, gắn với sự xâm nhập của phương Tây.

6. Bài tập luyện tập

  1. Điền khuyết: Giai đoạn thế kỉ VII – XV, các quốc gia Đông Nam Á tiếp thu ______ tinh hoa của văn minh Ấn Độ và Trung Hoa.
    Đáp án: có chọn lọc.
  2. Nối công trình với quốc gia: Ăng-co Vát, Bô-rô-bu-đua, Thạt Luổng lần lượt thuộc nước nào?
    Đáp án: Cam-pu-chia; In-đô-nê-xi-a; Lào.
  3. Tự luận ngắn: Vì sao nói các tôn giáo ở Đông Nam Á cổ – trung đại phát triển hoà hợp?
    Gợi ý: Nhiều tôn giáo (Phật giáo, Hin-đu giáo, Hồi giáo, Công giáo) cùng tồn tại; tín ngưỡng bản địa vẫn được giữ gìn; cư dân tiếp nhận tôn giáo theo hướng hoà quyện với phong tục địa phương nên ít xung đột.

7. Học tiếp

  • Giải SGK Lịch sử 10 Bài 10
  • Sách bài tập Lịch sử 10 Bài 10
  • 20 câu trắc nghiệm Lịch sử 10 Bài 10
  • Lý thuyết Bài 9: Cơ sở hình thành văn minh Đông Nam Á
  • Lý thuyết Bài 11: Một số nền văn minh cổ trên đất nước Việt Nam
  • Lý thuyết Lịch sử 10 – Kết nối tri thức (cả năm)

Câu hỏi thường gặp

Văn minh Đông Nam Á thời cổ - trung đại chia thành mấy giai đoạn?

Ba giai đoạn: từ đầu Công nguyên đến thế kỉ VII (hình thành, bước đầu phát triển); thế kỉ VII – XV (phát triển rực rỡ); thế kỉ XVI – XIX (có chuyển biến quan trọng do suy yếu của phong kiến và sự xâm nhập của phương Tây).

Tín ngưỡng bản địa Đông Nam Á gồm những nhóm nào?

Gồm ba nhóm chính: tín ngưỡng sùng bái tự nhiên, tín ngưỡng phồn thực và tín ngưỡng thờ cúng người đã mất (tổ tiên, anh hùng, người có công).

Chữ Nôm của người Việt được sáng tạo dựa trên chữ viết nào?

Chữ Nôm dựa trên chữ Hán của Trung Quốc. Còn các chữ Chăm cổ, Khơ-me cổ, Mã Lai cổ, Miến cổ được tạo trên cơ sở chữ Phạn của Ấn Độ.

Kể tên một số công trình kiến trúc tiêu biểu của Đông Nam Á thời cổ - trung đại?

Ăng-co Vát (Cam-pu-chia), Bô-rô-bu-đua (In-đô-nê-xi-a), quần thể Pa-gan (Mi-an-ma), Thạt Luổng (Lào) và thánh địa Mỹ Sơn của người Chăm (Việt Nam).