Trả lời nhanh
Ở bài Trái chín, Tiếng Việt lớp 2 tập 2, trang 50–52, sách Chân trời sáng tạo, câu đố khởi động là quả khế (năm múi, vị chua) và quả gấc (ruột đỏ, hạt đen). Bài thơ gọi tên từng loại quả và tả màu, vỏ khi chín: mít xù xì, dưa hấu vẫn xanh, cà chua đỏ, ớt như ngọn lửa, hồng như son, chuối tiêu lấm tấm. Ý trắc nghiệm sát nhất trong ba ý in sẵn là “tên gọi và màu sắc của các loại trái cây”; ý nói về hương vị thì không hợp vì bài hầu như không tả mùi vị.
Cách làm bài Trái chín
Bài nằm trong tuần “Thiên nhiên muôn màu”. Em đọc thơ để nhận ra quả, không để chép lại cả bài. Mỗi khổ thường có một nét nhìn thấy được khi quả chín, rồi đến tên quả. Làm theo đúng thứ tự sách: khởi động, đọc và trả lời, bảng màu, viết từ chỉ màu, dấu câu, rồi trò chơi nhìn hình đoán trái.
Khi trả lời câu “được so sánh với hình ảnh nào”, em tìm chữ “như”, “tựa”, “là”. Đó là chỗ tác giả ví quả với một vật khác. Khi trả lời “đặc điểm”, em nói vỏ, màu, độ xù xì hay độ mịn, không nói quả ngon hay không nếu câu thơ không nói.
| Quả | Nét khi chín | Cách ví trong bài |
|---|---|---|
| Mít | Vỏ xù xì | Như da cóc |
| Dưa hấu | Vỏ vẫn xanh | Gọi thẳng màu xanh |
| Cà chua | Chín đỏ | Gọi thẳng màu đỏ |
| Ớt chỉ thiên | Đỏ rực | Như ngọn lửa |
| Hồng | Đỏ mọng | Như son điểm |
| Thanh long | Hồng phấn | Được gọi là cô bạn của quả hồng |
| Chuối tiêu | Vỏ lấm chấm | Như tàn nhang |
| Xoài | Vỏ mịn | Mịn như lụa |
Bài còn nhắc ô môi, bồ kết chín sẫm như than; cóc và điều ngả màu úa; xa-pô-chê ngả màu đất. Em không cần thuộc hết mọi dòng, nhưng cần thuộc nhóm mít – dưa hấu – cà chua và nhóm ớt – hồng – chuối tiêu, vì đó là hai câu hỏi trang 51.
Năm bài đã giải chi tiết
Bài 1. Khởi động: quả gì
Quả có năm múi, vị chua là quả khế. Khế cắt ngang hiện năm cánh nhọn, ăn chua. Quả ruột đỏ, hạt đen là quả gấc. Gấc chín vỏ vàng cam, bổ ra ruột đỏ đậm và hạt đen, dùng để thắp xôi. Đừng đổi thành quả chanh hay quả dưa: chanh không nổi tiếng vì năm múi, dưa hấu hạt đen nhưng ruột đỏ không phải dấu hiệu duy nhất của gấc trong câu đố này. Cặp khế – gấc là cặp đúng với hai câu đố in ở trang 50.
Bài 2. Mít, dưa hấu, cà chua khi chín
Mít chín vỏ sần, xù xì, bài ví với da cóc. Dưa hấu chín mà vỏ vẫn xanh, không chuyển đỏ như nhiều quả khác; muốn biết chín, người ta gõ vỏ chứ không nhìn vỏ hóa đỏ. Cà chua chín thì đỏ. Ba ý này trả lời đủ câu 1 trang 51. Em viết thành ba gạch đầu dòng, mỗi quả một dòng, khỏi gom một câu dài dễ sót quả.
Bài 3. Ớt, hồng và chuối tiêu được ví với gì
Ớt chỉ thiên chín được ví như ngọn lửa, vì quả nhỏ, nhọn, đỏ. Quả hồng được ví như son điểm, tức màu đỏ thẫm, mịn như son. Chuối tiêu chín có những chấm nhỏ trên vỏ, bài ví với tàn nhang lấm tấm. Đây là câu 2. “Son điểm” gắn với hồng, không gắn với ớt. “Ngọn lửa” gắn với ớt, không gắn với chuối. Tráo ba hình ảnh này là lỗi hay gặp.
Bài 4. Nội dung bài thơ
Ba ý in trong sách: tên gọi và màu sắc của các loại trái cây; màu sắc, hình dáng của một số trái khi chín; tên gọi và hương vị của một số trái. Ý nên khoanh là ý thứ nhất: tên gọi và màu sắc. Mỗi khổ đều dẫn đến một cái tên và một sắc chín. Ý thứ ba loại được, vì bài gần như không tả ngọt, chua, thơm. Ý thứ hai không vô lí: mít xù xì, chuối lấm tấm, xoài mịn đều là hình dáng, độ sờ của vỏ. Nhưng trong ba ý cho sẵn, các lời giải thống nhất khoanh ý tên gọi và màu sắc, vì tên quả là “đáp số” của từng khổ. Nếu em viết câu tự luận thay vì khoanh, em được nói thêm hình dáng; còn ô trắc nghiệm thì giữ ý thứ nhất.
Bài 5. Khổ em thích và bảng màu
Một cách trả lời câu “em thích khổ nào”: em thích khổ có quả hồng và thanh long. Hồng chín đỏ như son, thanh long chín hồng phấn, hai quả gần sắc mà vẫn phân biệt được. Bài gọi thanh long là cô bạn của quả hồng. Cách gọi “cô bạn” làm hai quả thành hai người đứng cạnh nhau, đọc gần và dễ nhớ. Em được chọn khổ khác, miễn nói được một hình ảnh cụ thể, không viết mỗi câu “vì khổ thơ hay”.
Phần “Bảng màu kì diệu” chọn màu hợp với từng hình trong sách. Cách điền chắc: hoa hồng thì màu hồng, thanh long thì màu hồng, xoài chín thì màu vàng. Câu tả có thể là: “Quả xoài chín vàng, vỏ mịn, trông rất ngọt mắt.” Câu này có từ chỉ màu và một nhận xét, đúng yêu cầu nói về một loại hoa hoặc quả vừa chọn.
Từ chỉ màu, dấu câu và trò chơi
Điền từ chỉ màu trang 52. Mẫu đã cho “hoa huệ trắng tinh”. Các dòng còn lại điền được như sau: hoa sen hồng nhạt, hoa cúc vàng tươi, con sóc nâu, con bò nâu vàng, con quạ đen. Một số phiếu chấp nhận từ cùng sắc: hồng phớt hoặc hồng tươi thay cho hồng nhạt, vàng ươm thay cho vàng tươi, nâu sẫm cho sóc, vàng nâu cho bò, đen thui cho quạ. Màu gốc không đổi. “Hoa sen xanh” hay “con quạ trắng” thì sai vì không đúng vật thật mà bài muốn em quan sát.
Đặt câu với từ vừa tìm. Hai câu mẫu: “Những bông cúc vàng tươi nghiêng theo gió.” “Đàn quạ đen đậu một hàng trên cành khô.” Mỗi câu chỉ cần một từ vừa điền, viết hoa đầu câu và có dấu chấm.
Dấu chấm hay dấu chấm than. Đoạn tả chú chuồn chuồn nước có vài chỗ chấm trống. Quy tắc đủ dùng: chỗ là lời kêu, lời ngạc nhiên thì dùng dấu chấm than; chỗ đang kể, tả bộ phận thì dùng dấu chấm. “Ôi chao” là tiếng kêu, đặt dấu chấm than. Câu có “làm sao” cũng là câu cảm, đặt dấu chấm than. Câu tả lưng vàng, cánh mỏng, mắt long lanh như thủy tinh, thân nhỏ, màu nắng mùa thu đều là câu kể, đặt dấu chấm. Trong sách đôi khi in thừa một chữ ở tiếng “đẹp”; em viết đúng một chữ p.
Câu tự đặt, thể hiện ngạc nhiên trước cảnh đẹp, cũng cần dấu chấm than: “Ôi, mặt hồ buổi sớm trong quá!” Không dùng dấu chấm than cho một câu kể bình thường như “Em đi học lúc bảy giờ.”
Trò chơi Nhìn hình đoán trái. Lời giải gắn với hình trang vận dụng là trái cam. Em vẫn nhìn lại hình trong sách của mình: nếu hình là quả tròn, vỏ cam, có lá xanh thì gọi quả cam. Hình khác thì gọi đúng tên quả đang vẽ, đừng học thuộc mỗi chữ “cam” khi tranh đã đổi.
Bài luyện thêm
Bài 1. Quả gì chín vẫn để vỏ xanh, ruột đỏ, hay có hạt đen?
Đáp án: dưa hấu. Khác gấc ở chỗ câu đố khởi động đòi “ruột đỏ, hạt đen” và đáp án của sách là gấc; còn dưa hấu là quả “chín xanh” trong bài thơ.
Bài 2. “Chín như ngọn lửa” là quả nào? “Chín như son điểm” là quả nào?
Đáp án: ngọn lửa là ớt chỉ thiên. Son điểm là quả hồng.
Bài 3. Điền từ chỉ màu: quả cà chua chín … ; lá lúa non … ; lông quạ …
Đáp án: đỏ; xanh; đen.
Bài 4. Chọn dấu: “Trời ơi … Cầu vồng đẹp quá …”
Đáp án: “Trời ơi! Cầu vồng đẹp quá!” Cả hai chỗ đều là lời ngạc nhiên.
Bài 5. Vì sao không khoanh ý “tên gọi và hương vị” là nội dung bài thơ?
Đáp án: bài thơ chủ yếu gọi tên quả và tả màu, vỏ lúc chín. Hương vị hầu như không được kể, nên ý ấy không đúng trọng tâm.
Học thuộc hai khổ em thích bằng cách che tên quả, đọc phần tả, rồi tự đoán tên. Đoán đúng là em đã hiểu bài, không cần đọc thuộc như một chuỗi chữ không nghĩa.
Câu hỏi thường gặp
Quả có năm múi, vị chua là quả gì?
Quả khế. Quả ruột đỏ, hạt đen trong câu đố khởi động là quả gấc.
Mít, dưa hấu, cà chua khi chín có gì đặc biệt?
Mít vỏ xù xì như da cóc, dưa hấu chín mà vỏ vẫn xanh, cà chua chín đỏ.
Ớt, hồng và chuối tiêu được ví với hình ảnh nào?
Ớt chỉ thiên như ngọn lửa, quả hồng như son điểm, chuối tiêu lấm tấm như tàn nhang.
Nội dung bài thơ Trái chín là gì?
Trong ba ý cho sẵn, khoanh “tên gọi và màu sắc của các loại trái cây”. Ý hương vị không hợp. Bài cũng có vài nét hình dáng, nhưng ô trắc nghiệm vẫn theo ý tên và màu.
Hoa sen, hoa cúc, con quạ điền từ màu nào?
Hoa sen hồng nhạt, hoa cúc vàng tươi, con quạ đen. Có thể nhận các từ cùng sắc như hồng phớt, vàng ươm, đen thui.