Trả lời nhanh
Một phân tử saccarozơ có một gốc α-glucozơ và một gốc β-fructozơ, nối với nhau qua nguyên tử oxi bằng liên kết α-1,2-glicozit (C1 của glucozơ nối C2 của fructozơ). Vì hai nhóm OH hemiaxetal đều đã tham gia tạo liên kết nên saccarozơ không còn tính khử.
Đề bài và đáp án
Đề thường gặp: “Một phân tử saccarozơ có”
- A. một gốc β-glucozơ và một gốc α-fructozơ
- B. một gốc β-glucozơ và một gốc β-fructozơ
- C. hai gốc α-glucozơ
- D. một gốc α-glucozơ và một gốc β-fructozơ
Đáp án đúng: D.
Giải thích vì sao chọn D
Saccarozơ là đisaccarit có công thức phân tử C12H22O11. Khi thuỷ phân, nó cho đúng một phân tử glucozơ và một phân tử fructozơ, nên trong phân tử phải chứa hai gốc khác nhau.
Trong phân tử, gốc α-glucozơ (vòng 6 cạnh) liên kết với gốc β-fructozơ (vòng 5 cạnh) qua cầu nối –O–. Liên kết này tạo từ OH hemiaxetal ở C1 của glucozơ và OH hemiaxetal ở C2 của fructozơ.
Phương trình thuỷ phân:
C12H22O11 + H2O → C6H12O6 (glucozơ) + C6H12O6 (fructozơ) (xúc tác H+ hoặc enzim, đun nóng).
Loại trừ các phương án sai
| Phương án | Vì sao sai |
|---|---|
| A | Đảo ngược dạng α/β: glucozơ trong saccarozơ ở dạng α, fructozơ ở dạng β. |
| B | Glucozơ không ở dạng β. Gốc β-glucozơ là mắt xích của xenlulozơ, không phải của saccarozơ. |
| C | Hai gốc α-glucozơ là của mantozơ (maltozơ), nối bằng liên kết α-1,4-glicozit. Saccarozơ thuỷ phân còn cho fructozơ. |
Hệ quả về tính chất
- Không có nhóm OH hemiaxetal tự do nên không mở vòng thành anđehit. Vì thế saccarozơ không tráng bạc, không khử Cu(OH)2 khi đun nóng, không làm mất màu nước brom.
- Có nhiều nhóm OH liền kề (8 nhóm OH) nên hoà tan Cu(OH)2 ở nhiệt độ thường tạo dung dịch phức màu xanh lam.
- Bị thuỷ phân trong môi trường axit hoặc nhờ enzim, tạo hỗn hợp glucozơ và fructozơ (gọi là đường nghịch chuyển).
Mẹo nhớ
Hãy nhớ câu “Sa-cca-rozơ = Gluco α + Fructo β”. Mantozơ thì “hai Gluco α”. Xenlulozơ thì toàn “Gluco β”. Nhớ đúng ba cặp này là làm được hầu hết câu hỏi về cấu tạo đisaccarit và polisaccarit.
Lỗi sai thường gặp
- Nhầm saccarozơ có tính khử như mantozơ. Thực tế chỉ mantozơ mới có nhóm OH hemiaxetal tự do.
- Cho rằng saccarozơ có nhóm –CHO. Saccarozơ chỉ có nhóm –OH và liên kết glicozit.
- Nhầm số nhóm OH: 11 nguyên tử O trừ 3 nguyên tử O trong hai vòng và cầu nối glicozit, còn lại 8 nhóm OH.
Bài luyện tập
- Thuỷ phân hoàn toàn 34,2 gam saccarozơ trong môi trường axit. Tính khối lượng glucozơ thu được.
Đáp án: M saccarozơ = 342, nên n = 0,1 mol, thu 0,1 mol glucozơ, tức 0,1 × 180 = 18 gam. - Trong các chất glucozơ, fructozơ, saccarozơ, mantozơ, chất nào không tham gia phản ứng tráng bạc?
Đáp án: saccarozơ, vì không có nhóm OH hemiaxetal tự do. Fructozơ vẫn tráng bạc nhờ chuyển hoá thành glucozơ trong môi trường bazơ. - Cho dung dịch saccarozơ vào Cu(OH)2 ở nhiệt độ thường, hiện tượng quan sát được là gì?
Đáp án: kết tủa tan, thu được dung dịch màu xanh lam, do saccarozơ có nhiều nhóm OH liền kề.
Câu hỏi thường gặp
Một phân tử saccarozơ có bao nhiêu gốc monosaccarit?
Có 2 gốc: một gốc α-glucozơ và một gốc β-fructozơ, liên kết với nhau bằng liên kết α-1,2-glicozit.
Vì sao saccarozơ không tráng bạc?
Vì cả hai nhóm OH hemiaxetal của glucozơ và fructozơ đã dùng để tạo liên kết glicozit, nên phân tử không mở vòng tạo nhóm anđehit (–CHO).
Saccarozơ khác mantozơ ở điểm nào về cấu tạo?
Saccarozơ gồm gốc α-glucozơ và gốc β-fructozơ, không có tính khử. Mantozơ gồm hai gốc α-glucozơ nối α-1,4-glicozit và còn một nhóm OH hemiaxetal tự do nên có tính khử.
Thuỷ phân saccarozơ thu được sản phẩm gì?
Thu được glucozơ và fructozơ với tỉ lệ mol 1 : 1 khi đun nóng với axit hoặc có enzim xúc tác.