Trả lời nhanh
Nhận định “mật độ dân số nước ta có xu hướng giữ nguyên và ít biến động” là SAI. Mật độ dân số nước ta có xu hướng TĂNG dần qua các năm, vì số dân tăng còn diện tích lãnh thổ gần như không đổi. Mật độ = số dân : diện tích nên dân tăng thì mật độ tăng theo.
Vì sao mật độ dân số nước ta không thể “giữ nguyên”?
Công thức tính: Mật độ dân số (người/km2) = Số dân (người) : Diện tích (km2).
Diện tích đất liền và vùng lãnh thổ nước ta gần như cố định (khoảng 331 nghìn km2). Trong khi đó, số dân vẫn tăng đều: từ khoảng 64 triệu người (1989) lên hơn 98 triệu người (những năm gần đây). Tử số tăng, mẫu số không đổi thì kết quả phải tăng.
Số liệu minh hoạ (làm tròn)
| Mốc | Số dân (triệu người) | Mật độ ước tính (người/km2) |
|---|---|---|
| Năm 1989 | khoảng 64 | khoảng 195 |
| Năm 2019 | khoảng 96 | khoảng 290 |
| Những năm gần đây | hơn 98 | khoảng 297 |
Chỉ trong hơn 30 năm, mật độ đã tăng gần 1,5 lần. Đó không phải là “ít biến động”. Số liệu ở bảng là giá trị làm tròn để em nắm xu hướng; khi làm bài hãy dùng đúng bảng số liệu của đề.
Tăng nhưng tốc độ chậm lại
Nhiều bạn nhầm vì thấy dân số nước ta “tăng chậm lại” nên nghĩ mật độ đứng yên. Thực tế, tỉ lệ gia tăng dân số tự nhiên giảm (do kế hoạch hoá gia đình, mức sinh giảm) nghĩa là tốc độ tăng chậm lại, nhưng quy mô dân số vẫn tăng, nên mật độ vẫn tăng.
Mật độ cao nhưng phân bố không đều
- Mật độ trung bình của nước ta thuộc loại cao, gấp nhiều lần mức trung bình của thế giới.
- Đồng bằng sông Hồng, Đông Nam Bộ và dải đồng bằng ven biển: đông đúc, nhiều nơi trên 1.000 người/km2 (các đô thị lớn còn cao hơn nhiều).
- Trung du và miền núi phía Bắc, Tây Nguyên: thưa dân, mật độ chỉ khoảng dưới 150 người/km2.
Nguyên nhân: đồng bằng, đô thị có địa hình thuận lợi, lịch sử khai thác lâu đời, kinh tế phát triển, nhiều việc làm; miền núi địa hình hiểm trở, giao thông khó khăn, kinh tế kém phát triển hơn.
Lỗi sai thường gặp
- Nhầm “mật độ” với “số dân”: mật độ phụ thuộc cả diện tích.
- Nhầm tốc độ tăng giảm với quy mô giảm.
- Lấy mật độ trung bình cả nước để nói về từng vùng. Mỗi vùng chênh lệch rất lớn.
Mẹo nhớ: dân số Việt Nam vẫn tăng và đất không “nở thêm” → mật độ chỉ có thể tăng.
Bài luyện tập
- Một tỉnh (ví dụ tự đặt) có 2,4 triệu dân, diện tích 3.000 km2. Tính mật độ dân số.
Đáp án: 2.400.000 : 3.000 = 800 người/km2. - Sau 10 năm, tỉnh đó có 2,7 triệu dân, diện tích không đổi. Mật độ thay đổi thế nào?
Đáp án: 2.700.000 : 3.000 = 900 người/km2, tăng 100 người/km2. - Đúng hay sai: “Dân số tăng chậm lại thì mật độ dân số giảm.”
Đáp án: Sai. Tăng chậm lại vẫn là tăng, nên mật độ vẫn tăng, chỉ tăng với tốc độ thấp hơn.
Câu hỏi thường gặp
Mật độ dân số nước ta có xu hướng như thế nào?
Mật độ dân số nước ta có xu hướng tăng dần theo thời gian vì số dân tăng trong khi diện tích lãnh thổ gần như không thay đổi.
Vì sao nói mật độ dân số giữ nguyên, ít biến động là sai?
Vì mật độ bằng số dân chia diện tích. Diện tích không đổi, số dân vẫn tăng nên mật độ tăng, từ khoảng 195 người/km2 (1989) lên khoảng gần 300 người/km2 hiện nay.
Mật độ dân số nước ta phân bố ra sao?
Không đều: rất cao ở đồng bằng, ven biển và đô thị lớn (đồng bằng sông Hồng, Đông Nam Bộ), thấp ở miền núi, cao nguyên như Trung du và miền núi phía Bắc, Tây Nguyên.
Công thức tính mật độ dân số là gì?
Mật độ dân số (người/km2) = số dân (người) chia cho diện tích (km2).