Trả lời nhanh
Chuyện cổ tích về loài người lớp 4. Chuyện cổ tích về loài người (Tiếng Việt 4 Tập 1, Chân trời sáng tạo, trang 103–105) là bài thơ năm chữ của Xuân Quỳnh. Bài thơ “kể” một cách hồn nhiên rằng trẻ con được sinh ra trước tiên, rồi mặt trời, mẹ, bố, thầy giáo và trường lớp lần lượt xuất hiện để chăm sóc, yêu thương, dạy dỗ trẻ. Ý nghĩa: mọi điều tốt đẹp trên đời đều dành cho trẻ em; trẻ em cần được yêu thương, che chở và giáo dục. Câu 5 chọn ý: tác giả để trẻ em sinh ra trước nhất vì muốn khẳng định trẻ em luôn cần được chăm sóc, yêu thương.
Khởi động
Trước khi đọc bài, sách yêu cầu em bày tỏ suy nghĩ, cảm xúc khi nghe hoặc đọc một đoạn lời bài hát. Em có thể nói theo ba ý:
- Đoạn lời bài hát nói về ai, về điều gì.
- Câu hát em thích nhất và lí do em thích.
- Cảm xúc của em: vui, ấm áp, tự hào hay xúc động.
Gợi ý nói: “Khi nghe đoạn bài hát, em thấy rất vui và ấm áp. Lời bài hát làm em nghĩ đến bố mẹ và thầy cô – những người luôn ở bên chăm sóc, dạy dỗ em. Em thấy mình thật may mắn và muốn cố gắng chăm ngoan hơn.”
Tìm hiểu bài đọc Chuyện cổ tích về loài người
Tác giả và thể thơ
- Tác giả: Xuân Quỳnh (1942–1988), quê ở La Khê, Hà Đông (nay thuộc Hà Nội), là nữ nhà thơ nổi tiếng với nhiều bài thơ trong trẻo, giàu tình yêu thương viết cho thiếu nhi.
- Thể thơ: năm chữ (mỗi dòng 5 tiếng), chia thành nhiều khổ, mỗi khổ 4 dòng; bài trong sách là đoạn trích.
- Giọng thơ: hồn nhiên, dí dỏm như lời kể chuyện cổ tích của một em bé.
Mạch kể của bài thơ
Bài thơ sắp xếp sự ra đời của mọi thứ theo một “trình tự” rất đặc biệt, lấy trẻ em làm trung tâm:
| Thứ tự xuất hiện | Vì sao cần có |
|---|---|
| Trẻ con | Được sinh ra trước nhất, khi trái đất còn trơ trụi, chưa có cây cỏ |
| Mặt trời | Mắt trẻ sáng nhưng chưa nhìn thấy gì vì trời tối, nên cần ánh sáng |
| Mẹ | Trẻ cần tình yêu và lời ru, cần người bế bồng, chăm sóc |
| Bố | Trẻ cần hiểu biết, cần được dạy ngoan, dạy biết suy nghĩ |
| Thầy giáo, trường lớp | Trẻ cần được học chữ, mở mang hiểu biết về thế giới |
Hai dòng mở đầu “Trời sinh ra trước nhất / Chỉ toàn là trẻ con” đã đảo ngược cách nghĩ thông thường, tạo sự bất ngờ và thú vị. Từ đó, mỗi khổ thơ trả lời một câu hỏi “trẻ còn cần gì nữa?”, và mỗi câu trả lời là một người hay một sự vật được “sinh ra”.
Trả lời câu hỏi bài Chuyện cổ tích về loài người (trang 104)
Câu 1: Khổ thơ thứ nhất cho em biết điều gì?
Khổ thơ thứ nhất cho biết: lúc đầu, trên trái đất trẻ con được sinh ra trước tiên. Khi ấy mặt đất còn trơ trụi, chưa có một bóng cây, ngọn cỏ nào – tức là chưa có gì khác ngoài trẻ em.
Câu 2: Mặt trời nhô cao giúp gì cho trẻ? Vì sao?
Mặt trời nhô cao giúp trẻ con nhìn rõ mọi vật. Vì mắt trẻ tuy rất sáng nhưng lúc đó thế giới còn tối, chưa có ánh sáng nên trẻ chưa thấy được gì; ánh mặt trời xuất hiện mới soi tỏ cảnh vật cho trẻ ngắm nhìn.
Câu 3: Tìm những từ ngữ thể hiện sự chăm chút, nâng niu của mẹ với trẻ
Các từ ngữ đó là: tình yêu, lời ru, bế bồng, chăm sóc. Những từ ngữ này cho thấy mẹ không chỉ nuôi lớn trẻ bằng sự chăm sóc mà còn bằng tình thương và những lời ru dịu dàng.
Câu 4: Bố và thầy giáo giúp cho trẻ em những gì?
- Bố giúp trẻ hiểu biết: dạy trẻ biết ngoan, biết suy nghĩ, kể cho trẻ nghe về thế giới rộng lớn như biển cả, con đường, núi non.
- Thầy giáo xuất hiện cùng trường lớp, bảng đen, bàn ghế; thầy dạy trẻ biết chữ, mở mang kiến thức và cho trẻ biết câu chuyện về loài người.
Câu 5: Theo em, vì sao tác giả để trẻ em sinh ra trước nhất?
Ý đúng nhất: vì tác giả muốn khẳng định trẻ em luôn cần được chăm sóc, yêu thương.
Giải thích: Khi để trẻ em ra đời trước, nhà thơ cho thấy mọi thứ xuất hiện sau đó – mặt trời, mẹ, bố, thầy giáo – đều là “vì trẻ em” và “cho trẻ em”. Như vậy, bài thơ nhấn mạnh trẻ em là trung tâm của sự yêu thương. Các ý như “trẻ em mãi bé bỏng” hay “luôn nhỏ bé trong mắt người lớn” chỉ đúng một phần, không nói lên được dụng ý chính là mọi người phải dành tình yêu, sự chăm sóc tốt nhất cho trẻ.
Nội dung chính và luyện đọc lại
Nội dung, ý nghĩa
Bằng lối kể như chuyện cổ tích, bài thơ khẳng định mọi vật, mọi người trên trái đất đều có mặt để chăm sóc, yêu thương và dạy dỗ trẻ em. Qua đó, tác giả gửi thông điệp: trẻ em cần được dành những điều tốt đẹp nhất, còn mỗi bạn nhỏ cần biết yêu quý, biết ơn những người đã nuôi dạy mình.
Đọc diễn cảm bài thơ
- Ngắt nhịp thơ năm chữ thường là 2/3 hoặc 3/2, nghỉ hơi cuối mỗi dòng và nghỉ dài hơn giữa các khổ.
- Nhấn giọng ở các từ ngữ chỉ sự xuất hiện và tình cảm: trước nhất, trẻ con, nhìn rõ, tình yêu, lời ru, bế bồng, biết ngoan, biết nghĩ.
- Giọng đọc chậm rãi, hồn nhiên như kể chuyện; khổ nói về mẹ đọc dịu dàng, khổ nói về bố và thầy giáo đọc rõ ràng, vui tươi.
Kể lại câu chuyện bằng lời của em (gợi ý)
Ngày xửa ngày xưa, khi trái đất mới ra đời, chỉ có những em bé ngơ ngác trên mặt đất trống trơn. Các em có đôi mắt rất sáng nhưng xung quanh tối om, chẳng thấy gì. Thế là mặt trời mọc lên, chiếu ánh sáng ấm áp cho các em ngắm nhìn. Nhưng các em vẫn cần được ôm ấp, vỗ về, nên mẹ xuất hiện, hát ru và bế bồng các em. Các em lại muốn biết thật nhiều điều, nên bố đến, dạy các em ngoan ngoãn và kể về biển rộng, núi xa. Cuối cùng, để các em biết chữ, biết những điều hay của loài người, thầy giáo cùng trường lớp ra đời. Từ đó, các em lớn lên trong tình yêu thương của tất cả mọi người.
Phần tiếp theo trang 105: Luyện tập về nhân hoá
Ngay sau bài đọc, em học cách nhân hoá bằng từ ngữ dùng để gọi người. Nhân hoá là gọi, tả con vật, cây cối, đồ vật bằng những từ ngữ vốn dùng cho con người, khiến chúng trở nên gần gũi, sinh động như có tâm hồn.
- Bài 1 (trang 105): trong các đoạn thơ, đoạn văn, sự vật được gọi bằng các từ chị, nàng, bác, bà, ông; các loài chim được gọi là thím, chú, anh, bác. Cách gọi ấy làm cây cối, đồ vật, con vật trở nên thân thiết như người trong gia đình.
- Bài 2 (trang 106): thay từ chỉ loài hoa bằng từ gọi người như cô, chị, bé; đoạn văn đọc lên tinh nghịch, đáng yêu hơn.
- Bài 3: viết 3–4 câu giới thiệu đồ dùng học tập, có dùng từ gọi người.
Đoạn văn tham khảo cho Bài 3: Trong chiếc cặp của em có cả một “gia đình” nhỏ. Anh thước kẻ lúc nào cũng thẳng thắn, giúp em kẻ những đường thật ngay. Chị bút chì chăm chỉ viết, viết mãi đến mòn cả người. Còn bé tẩy tròn xinh thì luôn sẵn sàng xoá giúp em những lỗi sai. Em rất yêu quý những người bạn ấy.
Câu hỏi tự luyện
- Tìm trong bài thơ hai từ ngữ cho thấy bố quan tâm đến sự hiểu biết của trẻ. Gợi ý: “dạy cho biết ngoan”, “dạy cho biết nghĩ”.
- Nếu được viết thêm một khổ thơ, em muốn “sinh ra” điều gì cho trẻ em? Vì sao? Gợi ý: sân chơi, cây xanh, những quyển sách… vì trẻ cần vui chơi, học hỏi.
- Đặt một câu có dùng từ gọi người để nhân hoá mặt trời. Ví dụ: Ông mặt trời thức dậy, vươn vai chiếu nắng xuống sân trường.
Câu hỏi thường gặp
Bài thơ Chuyện cổ tích về loài người của ai?
Bài thơ là của nhà thơ Xuân Quỳnh (1942–1988), được học trong Tiếng Việt 4 Tập 1 sách Chân trời sáng tạo, trang 103.
Nội dung chính của bài Chuyện cổ tích về loài người là gì?
Bài thơ cho thấy mọi vật, mọi người trên trái đất đều có mặt để chăm sóc, yêu thương và dạy dỗ trẻ em; trẻ em cần được dành những điều tốt đẹp nhất.
Trong bài thơ, ai được sinh ra trước nhất?
Trẻ con được sinh ra trước nhất, khi trái đất còn trơ trụi, chưa có cây cỏ.
Bài thơ Chuyện cổ tích về loài người viết theo thể thơ gì?
Bài thơ viết theo thể năm chữ, mỗi dòng 5 tiếng, mỗi khổ 4 dòng, giọng kể hồn nhiên như chuyện cổ tích.