Quả ngọt cuối mùa trang 49, 50, 51 Tiếng Việt lớp 4 Tập 1 Chân trời sáng tạo

Trả lời nhanh

Quả ngọt cuối mùa (Võ Thanh An) là bài đọc của Bài 3, Tiếng Việt 4 Chân trời sáng tạo Tập 1, trang 49–50. Bài thơ kể chuyện bà giữ chùm cam ngon nhất đến cuối mùa để chờ con cháu về, qua đó ca ngợi tình thương, đức hi sinh của bà và lòng biết ơn của con cháu. Ở câu hỏi chọn đáp án, hai dòng thơ “Quả vàng nằm giữa cành xuân…” tả chùm quả âm thầm chắt chiu vị ngọt, hương thơm. Trang 51 là tiết Luyện tập về động từ: tìm động từ theo nhóm hoạt động, động từ có tiếng thương, quý, mong và điền động từ vào thành ngữ, tục ngữ.

Khởi động (trang 49)

Yêu cầu: chia sẻ suy nghĩ, cảm xúc của em khi được người thân quan tâm, chăm sóc. Em nên kể một việc cụ thể rồi nói cảm xúc, ví dụ:

Hôm em bị sốt, bà thức gần như cả đêm để chườm khăn và nấu cháo cho em. Sáng ra thấy mắt bà thâm quầng, em vừa thương bà vừa thấy mình thật may mắn. Em tự hứa sẽ ngoan, giúp bà nhiều việc nhà hơn.

Tìm hiểu bài thơ Quả ngọt cuối mùa

Bố cục và nội dung từng khổ

  • Khổ 1: giữa vòm lá non của mùa xuân mới, chùm cam vẫn còn trên cây vì bà chưa hái, để dành phần con, phần cháu.
  • Khổ 2: trời tháng Giêng, tháng Hai rét buốt, bà vẫn chống gậy ra vườn trông chừng, vừa lo sương làm hỏng quả, vừa sợ chim ăn mất; chùm cam lặng lẽ tích mật, toả hương.
  • Khổ 3: lời của người cháu thương bà tuổi đã cao, sống xa con cháu; cháu ví bà như quả ngọt đã chín, càng già càng giàu lòng yêu thương.

Giải nghĩa một số từ ngữ

  • Trẩy: hái quả.
  • Rét cứa như dao: cái rét buốt như lưỡi dao cứa vào da, ý nói trời rét đậm.
  • Đoài, Đông: hướng tây và hướng đông; “nom Đoài rồi lại ngắm Đông” là nhìn khắp mọi phía.
  • Sương táp: sương lạnh phủ, đập vào làm quả dễ hỏng.
  • Tóc sương da mồi: tóc bạc trắng như sương, da có những đốm nâu như mai đồi mồi – hình ảnh của người già.

Nội dung chính

Bài thơ thể hiện tình yêu thương, sự chắt chiu, hi sinh của bà dành cho con cháu và lòng kính yêu, biết ơn sâu nặng của con cháu đối với bà.

Trả lời câu hỏi đọc hiểu (trang 50)

Một số bản in và tài liệu ghi câu 1, câu 2 với cách hỏi hơi khác nhau. Dưới đây có gợi ý cho cả hai cách hỏi để em đối chiếu với sách của mình.

Câu 1

Vì sao bà dành chùm cam đến tận cuối mùa? Bà để dành những quả cam ngon nhất, chưa hái, vì muốn chờ con cháu ở xa về để phần cho mọi người cùng ăn.

Nếu sách của em hỏi “Tìm từ ngữ tả thời tiết tháng Giêng, tháng Hai”: đó là các từ ngữ rét cứa như dao và sương táp, cho thấy trời rất lạnh, nhiều sương.

Câu 2

Bà đã giữ gìn chùm cam như thế nào? Dù trời rét buốt, cứ nghe tiếng chim chào mào là bà lại chống gậy ra vườn, nhìn khắp phía đông, phía tây; bà vừa lo sương lạnh làm hỏng quả, vừa canh không cho chim ăn mất.

Nếu sách hỏi “Những từ ngữ, hình ảnh nào cho thấy tình cảm của bà đối với con cháu?”: em nêu các chi tiết bà để dành quả ngon đến cuối mùa “chờ con, phần cháu”; bà chống gậy ra trông giữa trời rét; bà lo sương táp, phòng chim ăn.

Câu 3

Hai dòng thơ “Quả vàng nằm giữa cành xuân / Mải mê góp mật, chuyên cần toả hương” nói về điều gì? Đáp án đúng: Tả chùm quả âm thầm chắt chiu vị ngọt, hương thơm.

Giải thích: chủ ngữ của hai dòng thơ là “quả vàng”, nên các phương án nói về ong hay hoa đều sai đối tượng. Phương án “chùm quả giúp ong làm mật, giúp hoa toả hương” cũng sai vì quả tự “góp mật” cho chính nó, không phải giúp ong. Cách nhân hoá “mải mê”, “chuyên cần” khiến chùm cam giống như đang cần mẫn làm việc, giống chính người bà lặng lẽ chắt chiu cho con cháu.

Câu 4

Khổ thơ cuối bài nói lên điều gì? Khổ thơ cuối là tiếng lòng của người cháu: thương bà tuổi cao, tóc bạc, da đồi mồi mà vẫn phải sống xa con cháu. Cháu so sánh bà với “quả ngọt chín rồi”, càng nhiều tuổi tấm lòng càng đẹp, càng ngọt ngào – thể hiện sự kính yêu và biết ơn bà.

Học thuộc lòng

Sách yêu cầu học thuộc lòng 10 dòng thơ em thích. Mẹo: học theo từng khổ, mỗi khổ gắn với một hình ảnh (chùm cam để dành – bà chống gậy ra vườn – bà như quả ngọt); đọc to vài lần rồi che từng dòng để tự nhắc. Thể thơ lục bát (dòng 6 chữ xen dòng 8 chữ, vần nhịp nhàng) giúp em nhớ nhanh hơn.

Đọc mở rộng

Em tìm đọc một bài thơ viết về tình cảm gia đình hoặc tình cảm bạn bè, ví dụ Mẹ vắng nhà ngày bão (Đặng Hiển) hay Gọi bạn (Định Hải), rồi ghi vào Nhật kí đọc sách: tên bài, tác giả, từ ngữ hay, hình ảnh đẹp và đoạn thơ em thích kèm lí do. Khi chia sẻ với bạn, hãy nói vì sao đoạn thơ đó làm em xúc động.

Luyện từ và câu: Luyện tập về động từ (trang 51)

Câu 1: Tìm 2–3 động từ theo từng nhóm hoạt động

Nhóm hoạt động Từ mẫu Động từ gợi ý
Sáng tác, sáng tạo chế tạo sáng tác, thiết kế, phát minh, vẽ
Thiện nguyện quyên góp ủng hộ, giúp đỡ, chia sẻ, cứu trợ
Lao động làm vườn cày ruộng, quét nhà, tưới cây, cấy lúa
Di chuyển bay lượn chạy, đi bộ, bơi, leo trèo

Câu 2: Tìm 2–3 động từ có tiếng cho trước

  • Có tiếng thương: yêu thương, thương mến, thương nhớ.
  • Có tiếng quý (mẫu: quý mến): yêu quý, quý trọng.
  • Có tiếng mong (mẫu: nhớ mong): mong đợi, mong chờ, mong ngóng.

Lưu ý: chọn những từ chỉ tình cảm, trạng thái đúng chủ đề. Từ “thương lượng” cũng có tiếng “thương” nhưng mang nghĩa bàn bạc để thoả thuận, không hợp với nghĩa “thương yêu” nên em không nên chọn.

Câu 3: Thay * bằng động từ phù hợp

  • a) Ăn quả nhớ người trồng cây.
  • b) Kính thầy, yêu bạn.
  • c) Thương người như thể thương thân.

Cả ba câu đều nói về lòng biết ơn và tình yêu thương – rất gần với ý nghĩa của bài thơ Quả ngọt cuối mùa.

Câu 4 (trang 52): Đặt câu về hoạt động, trạng thái trong tranh

Em quan sát tranh trong sách, xác định ai đang làm gì, con vật hay cảnh vật ra sao, rồi đặt 2–3 câu có động từ. Ví dụ cách đặt câu: Các bạn nhỏ đang chơi bịt mắt bắt dê. – Bạn đứng giữa vòng tròn dang tay dò tìm. Hãy gạch chân động từ trong mỗi câu để tự kiểm tra.

Ghi nhớ về động từ

  • Động từ là từ chỉ hoạt động (chạy, viết, trồng) hoặc trạng thái (thương, mong, vui mừng) của người, vật.
  • Một động từ có thể ghép với các tiếng khác để tạo nhiều từ mới cùng chủ đề (thương → yêu thương, thương nhớ).
  • Khi điền từ vào thành ngữ, tục ngữ, em đọc cả câu để hiểu nghĩa trước rồi mới chọn từ.

Câu hỏi thường gặp

Bài thơ Quả ngọt cuối mùa của ai?

Bài thơ Quả ngọt cuối mùa là của nhà thơ Võ Thanh An, được học trong Bài 3, Tiếng Việt 4 Chân trời sáng tạo Tập 1.

Nội dung chính của bài Quả ngọt cuối mùa là gì?

Bài thơ ca ngợi tình yêu thương, đức hi sinh của bà dành cho con cháu và lòng kính yêu, biết ơn của con cháu đối với bà.

Vì sao bà dành chùm cam đến tận cuối mùa?

Bà để dành chùm cam ngon nhất, chưa hái, để chờ con cháu ở xa về cùng thưởng thức.

Bài thơ Quả ngọt cuối mùa viết theo thể thơ gì?

Bài thơ viết theo thể lục bát, gồm các cặp dòng 6 chữ và 8 chữ, chia thành 3 khổ.

Từ “tóc sương da mồi” nghĩa là gì?

Đó là cách nói về người già: tóc bạc trắng như sương, da có đốm nâu như mai con đồi mồi.