Chuyên đề Vật Lí 10 Bài 5: Chuyển động nhìn thấy của thiên thể (KNTT)

Trả lời nhanh

Kim tinh và Thủy tinh có quỹ đạo nằm bên trong quỹ đạo Trái Đất nên từ Trái Đất ta luôn thấy chúng quanh quẩn gần Mặt Trời: góc lệch tối đa khoảng 47° (Kim tinh) và 28° (Thủy tinh). Vì vậy chúng chỉ xuất hiện lúc hoàng hôn ở phía Tây (sao Hôm) hoặc trước bình minh ở phía Đông (sao Mai), không bao giờ thấy giữa đêm.

Bài 5 của Chuyên đề Vật Lí 10 (Kết nối tri thức) trả lời một câu hỏi rất đời thường: tại sao bầu trời nhìn từ Trái Đất lại “chuyển động” như vậy? Bài này gom ba mảng: chuyển động nhìn thấy của Mặt Trời, của Mặt Trăng và của các hành tinh. Trang này tóm tắt ý chính, giải thích sâu phần Kim tinh – Thủy tinh (phần học sinh hay hỏi nhất), rồi dẫn tới lời giải từng câu hỏi trong sách.

1. Nhớ lại: hệ Mặt Trời và hai loại hành tinh

Tám hành tinh chuyển động quanh Mặt Trời trên các quỹ đạo gần tròn, nằm gần như trong cùng một mặt phẳng. Thứ tự từ trong ra ngoài: Thủy tinh, Kim tinh, Trái Đất, Hỏa tinh, Mộc tinh, Thổ tinh, Thiên Vương tinh, Hải Vương tinh.

Đứng trên Trái Đất, ta chia hành tinh thành hai nhóm:

  • Hành tinh trong: quỹ đạo nằm trong quỹ đạo Trái Đất, gồm Thủy tinh và Kim tinh.
  • Hành tinh ngoài: quỹ đạo nằm ngoài quỹ đạo Trái Đất, gồm Hỏa tinh, Mộc tinh, Thổ tinh, Thiên Vương tinh, Hải Vương tinh.

Cách chia này là chìa khoá cho cả bài: mọi khác biệt về “hình ảnh nhìn thấy” đều xuất phát từ vị trí quỹ đạo so với Trái Đất.

2. Chuyển động nhìn thấy của Mặt Trời

Trái Đất tự quay quanh trục từ Tây sang Đông. Người đứng trên mặt đất bị “cuốn” theo nên thấy Mặt Trời chuyển động ngược lại: mọc ở phía Đông, lặn ở phía Tây. Đây là chuyển động nhìn thấy (biểu kiến), do Trái Đất quay chứ không phải Mặt Trời quay quanh ta.

Đường đi của Mặt Trời trên bầu trời còn đổi theo mùa vì trục Trái Đất nghiêng khi quay quanh Mặt Trời. Ở nước ta, mùa hè Mặt Trời lên cao, ngày dài đêm ngắn; mùa đông Mặt Trời đi thấp, ngày ngắn đêm dài. Câu ca dao “Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng, ngày tháng mười chưa cười đã tối” nói đúng điều này (tháng năm, tháng mười ở đây là tháng âm lịch, tương ứng khoảng giữa mùa hè và đầu mùa đông).

3. Chuyển động nhìn thấy của Mặt Trăng

Mặt Trăng không tự phát sáng mà phản xạ ánh sáng Mặt Trời. Luôn có một nửa Mặt Trăng được chiếu sáng; phần nửa sáng đó ta nhìn thấy nhiều hay ít phụ thuộc vị trí Mặt Trăng trên quỹ đạo quanh Trái Đất. Hình dạng thay đổi đó gọi là các pha của Mặt Trăng, lặp lại sau khoảng 29,5 ngày.

Pha Vị trí so với Mặt Trời – Trái Đất Ta thấy
Không trăng (trăng mới) Mặt Trăng nằm gần giữa Trái Đất và Mặt Trời Nửa tối hướng về Trái Đất, gần như không thấy
Trăng lưỡi liềm Lệch dần khỏi hướng Mặt Trời Một vành sáng mỏng
Trăng bán nguyệt Vuông góc với hướng Trái Đất – Mặt Trời Một nửa đĩa sáng
Trăng tròn Trái Đất nằm gần giữa Mặt Trời và Mặt Trăng Cả nửa sáng hướng về Trái Đất

Vì sao ở mọi nơi trên Trái Đất ta chỉ thấy cùng một “khuôn mặt” Mặt Trăng? Vì Mặt Trăng tự quay quanh trục với chu kì đúng bằng chu kì quay quanh Trái Đất, nên luôn hướng cùng một mặt về phía ta. Nếu Mặt Trăng không tự quay, các vị trí khác nhau trên quỹ đạo sẽ cho ta thấy những phần bề mặt khác nhau.

Lưu ý một chi tiết hay bị nhầm: chu kì quay của Mặt Trăng quanh Trái Đất so với các sao là khoảng 27,3 ngày, còn chu kì các pha là khoảng 29,5 ngày. Chênh lệch này do Trái Đất cũng đang dịch chuyển quanh Mặt Trời nên Mặt Trăng phải “đuổi” thêm một đoạn mới quay về đúng vị trí so với Mặt Trời.

4. Kim tinh, Thủy tinh: vì sao chỉ thấy gần Mặt Trời?

Hãy hình dung Mặt Trời ở tâm, Kim tinh chạy trên đường tròn bán kính nhỏ hơn đường tròn của Trái Đất. Từ Trái Đất nhìn lên, hướng tới Kim tinh không thể lệch khỏi hướng tới Mặt Trời quá một góc nhất định. Góc lớn nhất đạt được khi đường nhìn từ Trái Đất tiếp xúc với quỹ đạo Kim tinh, gọi là góc li giác cực đại.

Sơ đồ quỹ đạo Kim tinh nằm trong quỹ đạo Trái Đất, các vị trí có góc li giác lớn nhất ứng với sao Hôm và sao Mai
Từ Trái Đất, Kim tinh không bao giờ lệch khỏi Mặt Trời quá khoảng 47 độ nên chỉ thấy là sao Hôm hoặc sao Mai.

Tính được góc này nhờ tam giác vuông (vuông tại Kim tinh): sin(góc li giác) = bán kính quỹ đạo Kim tinh / bán kính quỹ đạo Trái Đất ≈ 0,72, suy ra góc khoảng 46°–47°. Với Thủy tinh, tỉ số bán kính khoảng 0,39 nên góc cực đại chỉ khoảng 23°–28° (quỹ đạo Thủy tinh khá bầu nên giá trị thay đổi theo từng lần).

Sao Hôm và sao Mai

  • Sao Hôm: Kim tinh nằm lệch về phía Đông của Mặt Trời nên lặn sau Mặt Trời. Ta thấy nó sáng rực ở phía Tây ngay sau hoàng hôn, rồi nó lặn sau đó vài giờ.
  • Sao Mai: Kim tinh nằm lệch về phía Tây của Mặt Trời nên mọc trước Mặt Trời. Ta thấy nó ở phía Đông trước lúc bình minh.

Đó vẫn là một hành tinh, chỉ khác thời điểm quan sát, nên người xưa mới đặt hai tên. Kim tinh quay quanh Mặt Trời mỗi vòng khoảng 225 ngày, còn lần lặp lại cùng một cấu hình so với Trái Đất (chu kì giao hội) là khoảng 584 ngày, nên cứ khoảng gần hai năm nó lại đổi vai từ sao Hôm sang sao Mai (hoặc ngược lại) với một khoảng “mất hút” ở giữa.

Thủy tinh khó thấy hơn

Thủy tinh lệch Mặt Trời còn ít hơn nên chỉ thấp thoáng sát chân trời trong chạng vạng, lại hay bị ánh sáng hoàng hôn che mờ. Vì thế nhiều người sống cả đời chưa nhận ra Thủy tinh dù nó không hề mờ.

Còn hình dạng của chúng?

Kim tinh và Thủy tinh cũng có pha giống Mặt Trăng, vì chúng chỉ được chiếu sáng một nửa và ta nhìn nửa đó dưới các góc khác nhau. Khi ở gần Trái Đất nhất (giữa Trái Đất và Mặt Trời) ta thấy phần lớn nửa tối, còn khi ở xa nhất phía sau Mặt Trời ta thấy gần trọn nửa sáng nhưng nó rất nhỏ. Quan sát pha của Kim tinh bằng kính thiên văn của Galileo là một trong những bằng chứng quan trọng ủng hộ mô hình nhật tâm.

5. Hành tinh ngoài và chuyển động hình vòng nút

Hành tinh ngoài (Hỏa tinh, Mộc tinh, Thổ tinh…) có thể nằm bất kì hướng nào so với Mặt Trời, kể cả ngược hướng, nên thấy được suốt đêm. Điều thú vị là đôi lúc chúng dường như đi lùi trên nền sao, rồi lại đi tiếp, vạch thành hình vòng nút.

Giải thích bằng mô hình nhật tâm rất tự nhiên: Trái Đất ở quỹ đạo trong nên chạy nhanh hơn hành tinh ngoài. Khi Trái Đất “vượt” hành tinh ngoài, giống như xe của bạn vượt xe khác trên đường cao tốc, xe kia bỗng như lùi lại so với cảnh vật xa phía sau. Sau khi vượt xong, nó lại “tiến” như cũ.

6. Hệ địa tâm Ptolemy và hệ nhật tâm Copernic

Tiêu chí Hệ địa tâm (Ptolemy) Hệ nhật tâm (Copernic)
Trung tâm Trái Đất đứng yên Mặt Trời đứng yên (xét trong hệ)
Chuyển động của hành tinh Quay quanh Trái Đất, thêm các vòng nhỏ (ngoại luân) để giải thích vòng nút Cả Trái Đất lẫn hành tinh quay quanh Mặt Trời; vòng nút là hệ quả của việc vượt nhau
Ngày – đêm Bầu trời quay quanh Trái Đất Trái Đất tự quay quanh trục
Độ đơn giản Phức tạp, cần nhiều giả thiết bổ sung Đơn giản, giải thích tự nhiên

Hạn chế của mô hình nhật tâm ban đầu: Mặt Trời không phải trung tâm của vũ trụ (nó chỉ là một ngôi sao trong thiên hà), và quỹ đạo hành tinh thực ra là elip chứ không phải đường tròn đều như Copernic giả định, nên mô hình còn sai lệch vị trí nhỏ cho tới khi Kepler hoàn thiện.

7. Lời giải từng câu hỏi trong bài

Chọn đúng trang trong sách để xem lời giải chi tiết:

  • Giải Chuyên đề Vật Lí 10 trang 40
    • Mặt Trời mọc, lặn và các pha Mặt Trăng
    • Cấu trúc hệ Mặt Trời và chuyển động các hành tinh
  • Giải Chuyên đề Vật Lí 10 trang 41
    • Đặc điểm cấu tạo của một số hành tinh
    • Chiều quay Trái Đất và sự mọc, lặn của Mặt Trời
  • Giải Chuyên đề Vật Lí 10 trang 42
    • Giải thích câu “Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng…”
    • Hình dạng Mặt Trăng quan sát từ Trái Đất
    • Vì sao Trăng tròn giống nhau ở mọi nơi
  • Giải Chuyên đề Vật Lí 10 trang 43
    • Mặt Trăng quay quanh Trái Đất nếu không tự quay
    • Kết luận về chuyển động của Mặt Trăng
    • Hình ảnh quan sát thấy của Thủy tinh, Kim tinh, Thổ tinh…
  • Giải Chuyên đề Vật Lí 10 trang 44, 45
    • Mô hình hệ địa tâm của Ptolemy
    • So sánh hệ địa tâm và hệ nhật tâm
    • Hạn chế của mô hình hệ nhật tâm
  • Giải Chuyên đề Vật Lí 10 trang 46, 47
    • Chuyển động nhìn thấy của Mặt Trời và sự tự quay của Trái Đất
    • Giải thích tên gọi “sao Hôm”, “sao Mai” của Kim tinh
  • Giải Chuyên đề Vật Lí 10 trang 48
    • Em có thể 1: giải thích chuyển động bằng hệ nhật tâm
    • Em có thể 2: các pha nhìn thấy của Mặt Trăng
    • Em có thể 3: chuyển động hình vòng nút của hành tinh

Xem thêm toàn bộ lời giải tại Giải Chuyên đề Vật Lí 10 – Kết nối tri thức.

8. Lỗi sai thường gặp và mẹo nhớ

  • Nhầm “nhìn thấy” với “thực sự”: Mặt Trời mọc rồi lặn là do Trái Đất quay, không phải Mặt Trời quay quanh Trái Đất.
  • Nhầm sao Hôm với sao Mai thành hai thiên thể: cả hai chỉ là Kim tinh, khác nhau ở thời điểm thấy.
  • Nhầm pha Mặt Trăng với bóng của Trái Đất: pha do ta nhìn nửa sáng dưới các góc khác nhau; bóng Trái Đất chỉ gây nguyệt thực.
  • Nhầm hành tinh “đi lùi thật”: vòng nút là hiệu ứng thị giác do Trái Đất vượt hành tinh ngoài.

Mẹo nhớ: “Hôm chiều – Tây; Mai sáng – Đông”. Hôm là buổi tối nên thấy phía Tây sau hoàng hôn, Mai là buổi sáng nên thấy phía Đông trước bình minh.

9. Bài luyện tập có đáp án

Bài 1. Góc li giác cực đại của Kim tinh khoảng 47°. Biết bầu trời “quay” khoảng 15° mỗi giờ. Nhiều nhất bao lâu sau khi Mặt Trời lặn thì Kim tinh còn thấy trên bầu trời?

Đáp án: thời gian = 47° : 15°/giờ ≈ 3,1 giờ. Vì vậy Kim tinh nhiều nhất còn thấy khoảng 3 giờ sau hoàng hôn (bỏ qua khác biệt do vị trí hạt chân trời). Do đó không bao giờ thấy nó lúc nửa đêm.

Bài 2. Thủy tinh quay quanh Mặt Trời mỗi 88 ngày, Trái Đất là 365,25 ngày. Tính chu kì giao hội của Thủy tinh (khoảng thời gian giữa hai lần Thủy tinh ở cùng một vị trí so với Mặt Trời và Trái Đất).

Đáp án: 1/S = 1/88 − 1/365,25 ≈ 0,011364 − 0,002738 = 0,008626, suy ra S ≈ 116 ngày. Như vậy cứ khoảng 116 ngày Thủy tinh lại có một “thời cơ” đẹp để quan sát.

Bài 3. Vì sao Thiên Vương tinh thấy được vào nửa đêm còn Thủy tinh thì không?

Đáp án: Thiên Vương tinh là hành tinh ngoài nên có thể nằm ngược hướng Mặt Trời so với Trái Đất; khi đó nó lên cao nhất lúc nửa đêm. Thủy tinh là hành tinh trong nên luôn nằm gần hướng Mặt Trời, chỉ thấy lúc chạng vạng.

10. Tóm tắt ngắn để ôn thi

  1. Mặt Trời mọc Đông, lặn Tây do Trái Đất tự quay từ Tây sang Đông.
  2. Các pha của Mặt Trăng do Mặt Trăng quay quanh Trái Đất và chỉ phản xạ ánh sáng Mặt Trời; chu kì pha khoảng 29,5 ngày.
  3. Mặt Trăng luôn hướng một mặt về Trái Đất vì chu kì tự quay bằng chu kì quay quanh Trái Đất.
  4. Kim tinh, Thủy tinh là hành tinh trong, chỉ thấy gần Mặt Trời: Kim tinh là sao Hôm hoặc sao Mai.
  5. Hành tinh ngoài có chuyển động hình vòng nút do Trái Đất vượt chúng.
  6. Mô hình nhật tâm giải thích các hiện tượng này đơn giản hơn mô hình địa tâm.

Để học tiếp, xem thêm Lý thuyết Vật Lí 10 – Kết nối tri thức.

Cùng chuyên đề: Mục lục khác cùng môn, lớp: SBT Lý 10 Kết nối tri thức: Giải sách bài tập Vật lí 10 theo 7 chương; Giải SGK Vật lý 10 Chân trời sáng tạo: Mục lục đủ 23 bài, 9 chương; Lý thuyết Chuyển động ném Vật lí 10 (Kết nối tri thức) – công thức ném ngang.

Câu hỏi thường gặp

Vì sao không thể thấy Kim tinh vào lúc nửa đêm?

Kim tinh có quỹ đạo nằm trong quỹ đạo Trái Đất nên góc lệch của nó so với Mặt Trời không vượt quá khoảng 47°. Góc này tương ứng chưa đến khoảng 3 giờ chuyển động của bầu trời, nên nó chỉ thấy sau hoàng hôn hoặc trước bình minh.

Sao Hôm và sao Mai có phải là hai ngôi sao khác nhau không?

Không. Cả hai đều là Kim tinh, một hành tinh. Khi Kim tinh lệch về phía Đông Mặt Trời, ta thấy nó ở phía Tây lúc chiều tối nên gọi là sao Hôm. Khi lệch về phía Tây Mặt Trời, ta thấy nó ở phía Đông lúc rạng sáng nên gọi là sao Mai.

Tại sao ta chỉ nhìn thấy một mặt của Mặt Trăng?

Vì Mặt Trăng tự quay quanh trục với chu kì bằng chu kì quay quanh Trái Đất, nên luôn có cùng một mặt hướng về phía Trái Đất.

Chuyển động hình vòng nút của hành tinh là gì và giải thích thế nào?

Đó là hiện tượng một hành tinh ngoài như Hỏa tinh có lúc dường như đi lùi trên nền sao rồi lại tiến. Theo mô hình nhật tâm, do Trái Đất ở quỹ đạo trong chuyển động nhanh hơn nên khi vượt hành tinh ngoài, ta thấy nó bị lùi tương đối so với nền sao xa.