Trả lời nhanh
Vẽ biểu đồ cột nhóm: trục hoành là các năm 2010, 2015, 2018, 2020; trục tung là nghìn thùng dầu mỗi ngày; mỗi năm hai cột cho lượng khai thác và lượng xuất khẩu. Không đổi đơn vị vì hai dãy cùng đơn vị. Khai thác tăng từ 9 694,0 lên 10 383,1 vào năm 2018 rồi giảm còn 9 459,7 năm 2020. Xuất khẩu năm 2020 là 4 617,0, thấp hơn năm 2010 là 360,8 nghìn thùng mỗi ngày. Một số lời giải ghi mức tăng khai thác 2010–2018 là 698,1 và mức giảm xuất khẩu 2018–2020 là 410,1; tính lại từ bảng thì hai số đúng là 689,1 và 590,1.
Bảng số liệu và dạng biểu đồ cần vẽ
Bài thực hành Địa lí 11, sách Chân trời sáng tạo, yêu cầu dựa vào bảng lượng dầu thô của Liên bang Nga giai đoạn 2010–2020 để vẽ biểu đồ và nhận xét. Số dưới đây lấy theo bảng dẫn nguồn CEIC, 2021, đơn vị nghìn thùng dầu mỗi ngày.
| Năm | Khai thác | Xuất khẩu | Xuất khẩu so với khai thác |
|---|---|---|---|
| 2010 | 9 694,0 | 4 977,8 | 51,3% |
| 2015 | 10 111,1 | 4 899,2 | 48,5% |
| 2018 | 10 383,1 | 5 207,1 | 50,1% |
| 2020 | 9 459,7 | 4 617,0 | 48,8% |
Tỉ trọng làm tròn một chữ số thập phân: 4 977,8 : 9 694,0 = 51,3%; 4 899,2 : 10 111,1 = 48,5%; 5 207,1 : 10 383,1 = 50,1%; 4 617,0 : 9 459,7 = 48,8%. Cột này không bắt buộc phải vẽ nếu đề chỉ hỏi sản lượng, nhưng dùng được trong phần nhận xét.
Chọn biểu đồ cột nhóm. Lí do: có hai đại lượng, cùng đơn vị, và chỉ bốn mốc thời gian. Cột nhóm vừa so được khai thác với xuất khẩu trong từng năm, vừa so được cùng một đại lượng qua các năm. Biểu đồ đường cũng diễn tả được xu hướng, nhưng với ít mốc và với yêu cầu so quy mô hai dãy, cột nhóm sát đề hơn. Không vẽ biểu đồ tròn vì đây không phải cơ cấu một tổng tại một năm. Không vẽ biểu đồ kết hợp hai trục vì hai dãy không khác đơn vị. Không cần xử lí số liệu sang năm gốc: đề hỏi thể hiện sản lượng, tức giá trị tuyệt đối.
Cách dựng trên giấy:
- Kẻ trục. Trục đứng chọn mốc tròn, cao hơn giá trị lớn nhất 10 383,1. Mốc 0, 2 000, 4 000, 6 000, 8 000, 10 000, 12 000 là vừa. Khoảng cách các mốc đều nhau.
- Trục ngang chia bốn nhóm năm, khoảng cách các nhóm bằng nhau. Trong mỗi nhóm, hai cột cùng bề rộng, cột khai thác đứng trước, cột xuất khẩu đứng sau.
- Ghi số lên đỉnh cột hoặc để người đọc đọc theo trục. Tô hai màu khác nhau và kẻ chú giải.
- Ghi tên biểu đồ phía dưới: Sản lượng khai thác và xuất khẩu dầu thô của Liên bang Nga, giai đoạn 2010–2020. Ghi đơn vị và nguồn CEIC, 2021.

Tính mức tăng, giảm trước khi nhận xét
Em trừ trên bảng, không lấy số chênh từ trí nhớ.
| Giai đoạn | Khai thác | Xuất khẩu |
|---|---|---|
| 2010–2015 | +417,1 | −78,6 |
| 2015–2018 | +272,0 | +307,9 |
| 2010–2018 | +689,1 | +229,3 |
| 2018–2020 | −923,4 | −590,1 |
| 2010–2020 | −234,3 | −360,8 |
Phép kiểm tra: 10 383,1 − 9 694,0 = 689,1; 9 459,7 − 10 383,1 = −923,4; 5 207,1 − 4 977,8 = 229,3; 4 617,0 − 5 207,1 = −590,1; 9 459,7 − 9 694,0 = −234,3; 4 617,0 − 4 977,8 = −360,8. Đơn vị mọi hiệu số vẫn là nghìn thùng mỗi ngày.
Vài đáp án in sẵn ghi khai thác tăng 698,1 nghìn thùng mỗi ngày trong cả giai đoạn 2010–2018, và xuất khẩu giảm 410,1 từ 2018 đến 2020. Hai số đó không ra từ bảng trên. 689,1 và 590,1 mới khớp phép trừ. Mức giảm khai thác 923,4 và mức tăng xuất khẩu 229,3 trong các đáp án ấy thì trùng với bảng, nên em giữ hai số này.
Câu nhận xét kiểu đúng–sai “năm 2020 so với năm 2010, sản lượng khai thác giảm 234,3 nghìn thùng mỗi ngày” là đúng. Câu “tỉ trọng xuất khẩu năm 2020 là lớn nhất” là sai: lớn nhất là năm 2010, với 51,3%. Câu “hai lượng này không thay đổi” là sai vì bảng biến động ở mọi mốc.
Nhận xét về khai thác và xuất khẩu dầu thô
Em viết nhận xét theo ba tầng: chung, từng chỉ tiêu, rồi giải thích ngắn. Không kể lại cả bảng bằng lời.
Nhận xét chung
Từ 2010 đến 2020, cả lượng khai thác và lượng xuất khẩu dầu thô của Liên bang Nga đều biến động, không tăng suốt và cũng không giảm suốt. Đỉnh của cả hai dãy cùng rơi vào năm 2018. So với năm 2010, năm 2020 thấp hơn ở cả hai chỉ tiêu: khai thác giảm 234,3 nghìn thùng mỗi ngày, xuất khẩu giảm 360,8 nghìn thùng mỗi ngày. Xuất khẩu dầu thô luôn xấp xỉ một nửa sản lượng khai thác, dao động từ 48,5% đến 51,3%.
Khai thác
Giai đoạn 2010–2018 sản lượng khai thác tăng liên tục qua ba mốc đã cho, tổng cộng 689,1 nghìn thùng mỗi ngày, trong đó 2010–2015 tăng 417,1 và 2015–2018 tăng thêm 272,0. Năm 2018 đạt 10 383,1, là mốc cao nhất trên bảng. Từ 2018 đến 2020 sản lượng giảm mạnh 923,4 nghìn thùng mỗi ngày, về 9 459,7, thấp hơn cả năm 2010. Mức giảm hai năm cuối lớn hơn toàn bộ mức tăng của tám năm trước, nên cả giai đoạn 2010–2020 kết thúc bằng một mức giảm.
Xuất khẩu
Xuất khẩu không đi cùng chiều với khai thác ở nửa đầu giai đoạn. Từ 2010 đến 2015, khai thác tăng nhưng xuất khẩu giảm 78,6 nghìn thùng mỗi ngày, từ 4 977,8 xuống 4 899,2. Từ 2015 đến 2018 xuất khẩu tăng 307,9, lên đỉnh 5 207,1. Từ 2018 đến 2020 xuất khẩu giảm 590,1, còn 4 617,0, là mốc thấp nhất trong bốn năm. Phần dầu thô không đi vào cột xuất khẩu vẫn rất lớn, khoảng 4 716 đến 5 212 nghìn thùng mỗi ngày tuỳ năm. Phần này phục vụ tiêu dùng và chế biến trong nước; em không coi hiệu “khai thác trừ xuất khẩu” là đúng từng thùng tiêu thụ nội địa, vì còn tồn kho và dầu đưa vào nhà máy lọc.
Giải thích ngắn, đúng tầm bài thực hành
Liên bang Nga có trữ lượng dầu lớn, vùng khai thác chủ lực gắn với Tây Xi-bia và một số khu vực khác ở phần lãnh thổ châu Âu cùng các mỏ mới hơn. Dầu thô là hàng xuất khẩu trọng yếu, mang lại nguồn thu lớn, nên sản lượng khai thác được duy trì ở quy mô rất cao trong suốt thập niên 2010.
Nhịp giảm năm 2020 gắn với hai việc xảy ra cùng lúc. Nhu cầu dầu thế giới sụt vì dịch bệnh làm giảm đi lại và sản xuất. Nga tham gia thỏa thuận cắt giảm sản lượng của nhóm OPEC+, nên lượng khai thác trên bảng hạ mạnh chỉ trong hai năm. Xuất khẩu giảm theo vì đầu ra bị thu hẹp, không phải vì nước này hết dầu.
Tỉ trọng xuất khẩu quanh mức một nửa cho thấy ngành không chỉ đào lên để bán thô. Một phần sản lượng ở lại để lọc hoá dầu và đáp ứng nhu cầu trong nước. Khi viết câu này, em dùng số 48,5% đến 51,3% đã tính, tránh nói “phần lớn sản lượng được xuất khẩu” vì bảng không cho thấy mức áp đảo.
Dàn ý một đoạn nhận xét đủ điểm
Em có thể chép cấu trúc, rồi thay bằng lời của mình:
- Câu mở: hai chỉ tiêu biến động, cùng đạt cao nhất năm 2018, năm 2020 thấp hơn năm 2010.
- Hai câu về khai thác: tăng 689,1 nghìn thùng mỗi ngày trong 2010–2018, giảm 923,4 trong 2018–2020.
- Hai câu về xuất khẩu: giảm nhẹ 2010–2015, tăng đến 2018, rồi giảm 590,1 về 4 617,0 năm 2020; xuất khẩu chiếm khoảng 49–51% sản lượng khai thác.
- Một câu giải thích: quy mô cao nhờ nguồn dầu lớn; năm 2020 giảm do cầu thế giới yếu và thỏa thuận cắt giảm sản lượng.
Câu dễ bị trừ: nhận xét “tăng liên tục từ 2010 đến 2020”, vì năm 2020 đã giảm; quy đổi đơn vị thành triệu tấn rồi so với bảng nghìn thùng; vẽ hai biểu đồ tròn cho bốn năm; quên chú giải nên người đọc không biết cột nào là xuất khẩu.
Nếu đề của em là sách khác và bảng tính bằng triệu tấn, với các mốc không trùng 2015 và 2018, em vẽ lại theo đúng bảng đó. Cách chọn biểu đồ cột nhóm và cách chia nhận xét vẫn giữ, nhưng mọi hiệu số phải trừ lại từ bảng mới, không mang 689,1 hay 590,1 sang một đơn vị khác.
Câu hỏi thường gặp
Vẽ biểu đồ gì cho sản lượng khai thác và xuất khẩu dầu thô của Nga?
Biểu đồ cột nhóm, mỗi năm hai cột, đơn vị nghìn thùng mỗi ngày. Hai dãy cùng đơn vị và chỉ có bốn mốc, nên không cần biểu đồ kết hợp hay biểu đồ tròn.
Từ 2010 đến 2020 sản lượng dầu thô Nga tăng hay giảm?
Khai thác năm 2020 thấp hơn năm 2010 là 234,3 nghìn thùng mỗi ngày. Xuất khẩu thấp hơn 360,8. Cả hai đều đạt cao nhất vào năm 2018 rồi giảm.
Mức giảm xuất khẩu dầu thô từ 2018 đến 2020 là bao nhiêu?
590,1 nghìn thùng mỗi ngày, bằng 5 207,1 trừ 4 617,0. Một số đáp án ghi 410,1; số đó không khớp bảng CEIC thường dùng trong bài.
Vì sao sản lượng năm 2020 giảm?
Nhu cầu dầu thế giới giảm trong đại dịch, đồng thời Nga tham gia cắt giảm sản lượng trong khuôn khổ OPEC+. Nguồn dầu của nước này không phải đã cạn.
Có phải hầu hết dầu khai thác được đều mang đi xuất khẩu?
Không. Xuất khẩu chỉ chiếm khoảng 48,5% đến 51,3% sản lượng khai thác tuỳ năm. Phần còn lại phục vụ tiêu dùng và chế biến trong nước.