Soạn bài Cô Tô lớp 6 (Nguyễn Tuân): trả lời câu hỏi và phân tích

Trả lời nhanh

“Cô Tô” là đoạn trích tùy bút của Nguyễn Tuân, viết về vẻ đẹp của vùng đảo Cô Tô (Quảng Ninh). Bài có ba bức tranh nối tiếp: Cô Tô sau trận bão, cảnh mặt trời mọc trên biển và cảnh sinh hoạt bên giếng nước ngọt. Qua đó, tác giả thể hiện tình yêu thiên nhiên, yêu con người lao động và vốn ngôn ngữ giàu hình ảnh, so sánh độc đáo.

1. Tìm hiểu chung về văn bản Cô Tô

Tác giả

  • Nguyễn Tuân (1910 – 1987), quê Hà Nội, là nhà văn nổi tiếng với thể tùy bút, bút ký.
  • Phong cách: tài hoa, uyên bác, rất chú ý đến cái đẹp, ngôn từ được chọn lọc kĩ và nhiều liên tưởng bất ngờ.

Tác phẩm

  • Thể loại: tùy bút (ghi chép cảm xúc, suy nghĩ của người viết trước cảnh vật, con người; có tính tự do về kết cấu).
  • Hoàn cảnh: viết sau chuyến đi thực tế tới quần đảo Cô Tô, vùng biển Đông Bắc nước ta (thuộc tỉnh Quảng Ninh).
  • Phương thức biểu đạt chính: miêu tả kết hợp biểu cảm.
  • Ngôi kể: ngôi thứ nhất – người viết trực tiếp quan sát, cảm nhận.

2. Bố cục đoạn trích

Phần Nội dung chính
Phần 1 Cảnh Cô Tô sau trận bão: trời biển trong trẻo, tươi sáng.
Phần 2 Cảnh mặt trời mọc trên biển Cô Tô: rực rỡ, kì vĩ mà thanh bình.
Phần 3 Cảnh sinh hoạt quanh giếng nước ngọt giữa đảo: đông vui, đầm ấm.

Mẹo nhớ: đi từ bầu trời – mặt biển (bức tranh rộng) đến mặt trời (điểm nhấn) rồi xuống con người (đời sống). Cái nhìn thu dần từ không gian lớn về cảnh sinh hoạt gần gũi.

3. Phân tích từng bức tranh

3.1. Cô Tô sau trận bão

Trận bão đi qua rồi, bầu trời và biển đảo hiện ra như được gột rửa. Nguyễn Tuân dùng hàng loạt tính từ chỉ màu sắc, độ sáng để miêu tả: bầu trời trong, biển xanh, cát vàng, cây cối tươi tốt, buồm thuyền nhiều trên mặt nước.

  • Cái hay của cách viết: nhà văn không tả bão mà tả cảnh sau bão. Chính sự tương phản ngầm giữa dữ dội và yên bình làm bức tranh thêm tươi mới.
  • Nghệ thuật: dùng nhiều tính từ gợi màu, so sánh, chọn từ rất chính xác; câu văn nhịp nhàng, gợi cảm giác nhẹ nhõm.
  • Cảm xúc: niềm vui, sự thích thú, ngỡ ngàng trước vẻ đẹp trong trẻo của biển đảo.

3.2. Cảnh mặt trời mọc trên biển

Đây là đoạn được nhiều bạn nhớ nhất. Mặt trời nhô lên khỏi mặt biển được tả theo từng bước: chân trời ngả sang màu sáng, vòng tròn đỏ hiện dần, rồi mặt trời tách khỏi mặt nước.

  • Hình ảnh so sánh đặc sắc: mặt trời như một quả trứng hồng hào đặt trên một mâm bạc. Vật nhỏ bé, quen thuộc được dùng để nói về cảnh vật lớn lao, khiến cảnh kì vĩ trở nên gần gũi, thanh bình.
  • Nhà văn quan sát tinh tế sự thay đổi của màu sắc và ánh sáng: từ sắc đỏ, hồng đến sáng rực khi mặt trời lên cao.
  • Câu văn dùng nhiều hình ảnh, nhịp chậm rãi như chính nhịp mặt trời dần dần nhô lên.

Lỗi thường gặp: nhiều bạn chỉ chép lại hình ảnh so sánh mà không nêu tác dụng. Hãy luôn viết thêm: biện pháp này giúp người đọc hình dung rõ, thấy cảnh vừa đẹp vừa gần gũi và bộc lộ sự liên tưởng tài hoa của tác giả.

3.3. Cảnh sinh hoạt bên giếng nước ngọt

Giếng nước ngọt trên đảo là nơi quý giá, vì giữa biển mặn, nước ngọt là điều kiện sống quan trọng. Quanh giếng, người dân gánh nước, tắm giặt, trò chuyện, tạo nên không khí tấp nập mà ấm áp.

  • Bức tranh chuyển từ thiên nhiên sang con người: sau cảnh đẹp là cuộc sống lao động bình dị.
  • Qua đó thấy được sức sống bền bỉ của người dân ven biển, gắn bó với đảo, biết trân trọng từng giọt nước.
  • Cảnh sinh hoạt làm bài văn không chỉ là “tranh phong cảnh” mà còn có hơi thở cuộc sống.

4. Đặc sắc nghệ thuật

  • Ngôn ngữ giàu hình ảnh, từ ngữ chọn lọc, đặc biệt là tính từ chỉ màu sắc.
  • Nhiều so sánh độc đáo, liên tưởng bất ngờ, gần gũi.
  • Quan sát tinh tế, miêu tả theo trình tự hợp lí (thời gian, không gian).
  • Giọng văn tài hoa, giàu cảm xúc, thể hiện đúng chất tùy bút của Nguyễn Tuân.

5. Ý nghĩa văn bản

Văn bản ca ngợi vẻ đẹp tươi sáng, trong trẻo của thiên nhiên vùng đảo Cô Tô và cuộc sống lao động bình dị của con người nơi đây. Đồng thời, bài văn gửi gắm tình yêu quê hương, đất nước và niềm tự hào về vùng biển đảo của Tổ quốc.

6. Gợi ý trả lời câu hỏi thường gặp

Lưu ý: câu hỏi và đánh số có thể khác nhau tùy sách và bản in; dưới đây là các dạng câu hỏi hay gặp cùng hướng trả lời gợi ý.

  1. Văn bản thuộc thể loại gì? Vì sao?
    Tùy bút, vì tác giả ghi lại cảm xúc, ấn tượng cá nhân khi tận mắt thấy cảnh vật, người viết xưng “tôi”, kết cấu tự do chứ không có cốt truyện.
  2. Nêu bố cục và nội dung từng phần.
    Xem bảng ở mục 2.
  3. Cảnh Cô Tô sau bão được miêu tả qua những chi tiết nào?
    Bầu trời trong, nước biển xanh, cát vàng, cây tươi tốt, nhiều thuyền trên biển; tất cả đều sáng, sạch và tươi mới.
  4. Tìm một hình ảnh so sánh đặc sắc và nêu tác dụng.
    Mặt trời như quả trứng hồng hào đặt trên mâm bạc: gợi màu sắc, hình dáng và cảm giác thanh bình, giúp cảnh kì vĩ trở nên gần gũi.
  5. Em có cảm nhận gì về con người Cô Tô?
    Cần cù, giản dị, gắn bó với biển đảo; cuộc sống tuy vất vả nhưng đầm ấm, tràn đầy sức sống.
  6. Em học được gì về cách quan sát, miêu tả?
    Cần quan sát bằng nhiều giác quan, chú ý màu sắc, ánh sáng, chuyển động; dùng so sánh gần gũi; miêu tả theo trình tự rõ ràng.

7. Đoạn văn mẫu: cảm nhận về cảnh mặt trời mọc

Trong bài “Cô Tô”, cảnh mặt trời mọc trên biển là bức tranh khiến em nhớ nhất. Nguyễn Tuân không tả bằng những từ ngữ to tát mà chọn hình ảnh rất đời thường: mặt trời như quả trứng hồng hào đặt trên mâm bạc. Nhờ so sánh ấy, cảnh bình minh vừa rực rỡ vừa dịu dàng, như bàn tay ai nhẹ nhàng đặt nó lên mặt biển. Câu văn chậm rãi, giàu màu sắc, giúp em như đang đứng trên đảo đón ánh sáng đầu tiên của ngày mới. Qua đó, em cảm nhận được sự tinh tế của nhà văn và thêm yêu vẻ đẹp biển đảo quê hương.

8. Luyện tập

Bài 1. Viết 3–4 câu giới thiệu về tác giả Nguyễn Tuân và thể loại của văn bản “Cô Tô”.

Gợi ý: Nguyễn Tuân (1910 – 1987) là nhà văn nổi tiếng, giỏi viết tùy bút, bút ký với phong cách tài hoa, uyên bác. “Cô Tô” là đoạn trích tùy bút ghi lại cảm nhận của ông về vùng đảo Cô Tô. Bài viết nổi bật ở ngôn ngữ giàu hình ảnh và những so sánh độc đáo.

Bài 2. Vì sao nhà văn chọn miêu tả cảnh Cô Tô sau trận bão mà không miêu tả bão?

Gợi ý: Để làm nổi bật sự trong trẻo, tươi sáng của thiên nhiên khi bão tan; sự đối lập giữa dữ dội và yên bình khiến vẻ đẹp của đảo hiện lên rõ hơn.

Bài 3. Hãy viết đoạn văn 4–5 câu nêu cảm nghĩ của em về cảnh sinh hoạt quanh giếng nước ngọt.

Gợi ý: nêu ý nghĩa của nước ngọt giữa đảo; cảnh người đến lấy nước, trò chuyện đông vui; cảm nhận về sự cần cù, gắn bó và tình làng nghĩa xóm.

9. Tổng kết nhanh để ôn bài

  • Tác giả: Nguyễn Tuân; thể loại: tùy bút.
  • Ba cảnh: sau bão – mặt trời mọc – giếng nước ngọt.
  • Nghệ thuật: tính từ chỉ màu sắc, so sánh độc đáo, quan sát tinh tế.
  • Nội dung: ca ngợi vẻ đẹp biển đảo và cuộc sống lao động bình dị.

Câu hỏi thường gặp

Văn bản Cô Tô của ai, thuộc thể loại gì?

Cô Tô là đoạn trích tùy bút của nhà văn Nguyễn Tuân (1910 – 1987), viết về vẻ đẹp của vùng đảo Cô Tô thuộc tỉnh Quảng Ninh.

Bố cục văn bản Cô Tô gồm mấy phần?

Thường chia ba phần: cảnh Cô Tô sau trận bão, cảnh mặt trời mọc trên biển và cảnh sinh hoạt bên giếng nước ngọt giữa đảo.

Hình ảnh so sánh nào trong bài Cô Tô được nhắc nhiều nhất?

Hình ảnh mặt trời mọc được ví như quả trứng hồng hào đặt trên mâm bạc, giúp cảnh bình minh kì vĩ mà gần gũi, thanh bình.

Ý nghĩa của văn bản Cô Tô là gì?

Văn bản ca ngợi vẻ đẹp trong trẻo của thiên nhiên biển đảo và cuộc sống lao động bình dị của con người Cô Tô, thể hiện tình yêu quê hương đất nước.