Trả lời nhanh
Trị số khí áp tỉ lệ nghịch với độ cao, nhiệt độ và độ ẩm của không khí: lên cao, nóng lên hoặc nhiều hơi nước thì khí áp giảm; xuống thấp, lạnh đi hoặc khô thì khí áp tăng. Gió là sự chuyển động của không khí từ nơi khí áp cao đến nơi khí áp thấp, lệch hướng do lực Cô-ri-ô-lít.
Bài 9 là một trong những bài dễ ra đề nhất của chương khí quyển. Em cần nắm chắc hai mạch chính: khí áp (vì sao có đai áp cao, áp thấp; vì sao khí áp thay đổi) và gió (gió thường xuyên, gió mùa, gió địa phương). Trước khi học, em có thể xem lại Bài 8 ở mục dưới để nhớ kiến thức về nhiệt độ không khí, vì nhiệt độ chi phối khí áp rất nhiều.
Các bài cùng bài học: Giải SGK Địa lí 10 Bài 9, Sách bài tập Bài 9, 20 câu trắc nghiệm Bài 9. Bài trước: Lý thuyết Bài 8; bài sau: Lý thuyết Bài 10: Mưa.
I. Khí áp
1. Khái niệm
Khí áp là sức ép của không khí lên bề mặt Trái Đất. Khí áp được đo bằng khí áp kế, đơn vị thường dùng là mm Hg hoặc mb (milibar, tương đương hPa). Ở mực nước biển, khí áp trung bình khoảng 760 mm Hg, tương đương khoảng 1013 mb.
Nhớ thêm hai con số cực trị trong bài: khí áp cao nhất ghi nhận ở vùng Xi-bia (khoảng 1084 mb), khí áp thấp nhất ở mắt bão trên Thái Bình Dương (khoảng 870 mb).
2. Sự hình thành các đai khí áp
Trên Trái Đất có bảy đai khí áp, cao và thấp xen kẽ nhau, đối xứng qua đai áp thấp xích đạo: áp thấp xích đạo (1 đai), áp cao cận chí tuyến (2 đai), áp thấp ôn đới (2 đai) và áp cao cực (2 đai).

Hai nhóm nguyên nhân hình thành các đai:
- Nhiệt lực: vùng xích đạo nóng quanh năm, không khí nở ra, bốc lên nên khí áp thấp. Vùng cực rất lạnh, không khí co lại, chìm xuống nên khí áp cao.
- Động lực: không khí bốc lên ở xích đạo, đến khoảng vĩ độ 30° thì giáng xuống làm khí áp tăng (áp cao cận chí tuyến). Không khí từ áp cao cận chí tuyến và áp cao cực chảy về khoảng vĩ độ 60°, gặp nhau rồi bốc lên làm khí áp giảm (áp thấp ôn đới).
3. Nguyên nhân làm thay đổi khí áp
Đây chính là phần trả lời cho câu hỏi “trị số khí áp tỉ lệ như thế nào”. Cả ba yếu tố dưới đây đều tỉ lệ nghịch với khí áp.
| Yếu tố | Khi yếu tố tăng | Giải thích |
|---|---|---|
| Độ cao | Khí áp giảm | Càng lên cao không khí càng loãng, sức nén nhỏ đi. |
| Nhiệt độ | Khí áp giảm | Không khí nóng nở ra, nhẹ hơn, sức nén giảm; lạnh thì co lại, sức nén tăng. Vì vậy lục địa mùa hạ thường hình thành áp thấp, mùa đông hình thành áp cao. |
| Độ ẩm (hơi nước) | Khí áp giảm | Hơi nước nhẹ hơn các khí chính của không khí, nên không khí ẩm nhẹ hơn không khí khô. |
Mẹo nhớ: “Cao – nóng – ẩm thì áp thấp; thấp – lạnh – khô thì áp cao”. Em đọc đề thấy cụm “tỉ lệ thuận” gắn với khí áp thì nên nghi ngờ ngay.
II. Gió
1. Khái niệm và nguyên nhân
Gió là sự chuyển động của không khí từ nơi khí áp cao đến nơi khí áp thấp. Gió được đặc trưng bởi hướng và tốc độ. Chênh lệch khí áp giữa hai nơi càng lớn thì gió càng mạnh.
Do Trái Đất tự quay, gió không thổi thẳng mà bị lệch: lệch về bên phải theo hướng chuyển động ở Bắc bán cầu, lệch về bên trái ở Nam bán cầu (lực Cô-ri-ô-lít). Đây là lí do hướng gió ở hai bán cầu khác nhau.
2. Các loại gió thổi thường xuyên và theo mùa
| Loại gió | Thổi từ … đến … | Hướng (Bắc / Nam bán cầu) | Tính chất |
|---|---|---|---|
| Đông cực | Áp cao cực → áp thấp ôn đới | Đông bắc / đông nam | Lạnh, khô; gây các đợt rét ở vùng ôn đới vào mùa đông |
| Tây ôn đới | Áp cao cận chí tuyến → áp thấp ôn đới | Tây nam / tây bắc | Ẩm, hay gây mưa phùn, mưa nhỏ |
| Mậu dịch (Tín phong) | Áp cao cận chí tuyến → áp thấp xích đạo | Đông bắc / đông nam | Khô, thổi đều đặn quanh năm |
| Gió mùa | Đổi hướng theo mùa, hai mùa ngược chiều nhau | Tuỳ khu vực | Mùa hạ nóng ẩm, mưa nhiều; mùa đông lạnh, khô |
Gió mùa phổ biến ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt, rõ nhất ở Nam Á, Đông Nam Á, Đông Á. Nguyên nhân chính là sự chênh lệch nóng – lạnh giữa lục địa và đại dương thay đổi theo mùa, cộng với sự dịch chuyển của các đai khí áp.
3. Các loại gió địa phương
a) Gió biển, gió đất
Hoạt động ở vùng ven biển, đổi hướng theo chu kì ngày – đêm. Ban ngày đất liền nóng nhanh hơn biển, hình thành áp thấp trên đất liền nên gió biển thổi từ biển vào đất liền (mát, ẩm). Ban đêm đất liền nguội nhanh hơn, biển còn ấm nên gió đất thổi từ đất liền ra biển.
b) Gió phơn (gió Lào)
Gió phơn là gió khô và nóng thổi từ trên núi xuống. Quá trình hình thành:
- Gió ẩm gặp núi cao, bị chắn lại và buộc phải dâng lên sườn đón gió. Khi lên cao, không khí lạnh dần (khoảng 0,6 °C mỗi 100 m trong điều kiện bão hoà), hơi nước ngưng kết thành mưa.
- Vượt qua đỉnh, không khí đã mất phần lớn hơi nước, đổ xuống sườn khuất gió và nóng lên nhanh (khoảng 1 °C mỗi 100 m).
- Kết quả: sườn khuất gió khô, nóng; gió thổi theo từng đợt, kéo dài từ vài giờ đến vài ngày.
Ví dụ tự đặt: không khí ở chân núi sườn đón gió có nhiệt độ 30 °C, vượt đỉnh núi cao 2000 m rồi đổ xuống chân sườn khuất gió (cùng độ cao mực biển). Lên 2000 m: giảm 20 × 0,6 = 12 °C, còn 18 °C. Xuống 2000 m: tăng 20 × 1 = 20 °C, thành 38 °C. Như vậy sườn khuất gió nóng hơn nơi xuất phát tới 8 °C dù cùng độ cao.
c) Gió thung lũng, gió núi
Ở vùng đồi núi, ban ngày sườn núi nóng hơn nên gió thổi từ thung lũng lên sườn núi (gió thung lũng, oi bức); ban đêm sườn núi lạnh nhanh hơn nên gió thổi từ sườn núi xuống thung lũng (gió núi, mát dịu). Nguyên nhân là sự chênh lệch nhiệt độ giữa sườn núi và thung lũng.
III. Lỗi sai thường gặp
- Nhầm “áp cao cận chí tuyến” với “áp cao chí tuyến”: các đai này nằm quanh vĩ độ 30°, không phải đúng đường chí tuyến.
- Quên lực Cô-ri-ô-lít nên viết gió Tây ôn đới là “gió tây” ở cả hai bán cầu; đúng ra là tây nam (Bắc) và tây bắc (Nam).
- Nhầm nguồn gốc: Tín phong thổi về xích đạo, Tây ôn đới thổi về ôn đới; cả hai đều xuất phát từ áp cao cận chí tuyến.
- Viết gió phơn ẩm, mát. Gió phơn chỉ khô nóng ở sườn khuất gió; sườn đón gió thì có mưa.
- Nhầm chiều gió biển – gió đất: nhớ “ngày nóng ở đất, gió từ biển vào”.
IV. Bài luyện tập có đáp án
Câu 1. Trị số khí áp tỉ lệ như thế nào với độ cao?
Đáp án: tỉ lệ nghịch. Lên cao không khí loãng nên sức nén giảm, khí áp giảm.
Câu 2. Ở Nam bán cầu, gió Đông cực thổi theo hướng nào?
Đáp án: đông nam (ở Bắc bán cầu là đông bắc), do lực Cô-ri-ô-lít làm lệch hướng.
Câu 3. Vành đai khí áp nào là đai chung cho cả hai bán cầu?
Đáp án: đai áp thấp xích đạo. Đây là đai nằm giữa, các đai còn lại đều có một đai ở mỗi bán cầu.
Câu 4. Ở Bắc bán cầu, gió Tây ôn đới thổi quanh năm theo hướng nào?
Đáp án: tây nam, từ áp cao cận chí tuyến lên áp thấp ôn đới.
Câu 5. Ban ngày, ở ven biển, gió thổi từ đâu đến đâu? Vì sao?
Đáp án: từ biển vào đất liền, vì ban ngày đất liền nóng hơn, khí áp thấp hơn mặt biển.
Câu 6 (tính toán). Không khí ở chân sườn đón gió có nhiệt độ 26 °C, vượt núi cao 1500 m rồi xuống chân sườn khuất gió. Tính nhiệt độ ở chân sườn khuất gió (theo mức giảm 0,6 °C/100 m khi lên và tăng 1 °C/100 m khi xuống).
Lời giải: lên 1500 m giảm 15 × 0,6 = 9 °C → 17 °C ở đỉnh. Xuống 1500 m tăng 15 × 1 = 15 °C → 32 °C.
Lưu ý về một câu trắc nghiệm hay gặp
Câu hỏi “gió nào thường gây nhiều mưa cho Đông Nam Á” dễ gây tranh cãi vì hai phương án đều liên quan nhau: tín phong bán cầu Nam khi vượt xích đạo bị lệch thành gió tây nam, mang nhiều hơi ẩm từ Ấn Độ Dương, trở thành gió mùa mùa hạ. Khi làm bài, em hãy đọc kĩ các phương án và chọn phương án gắn trực tiếp với tên gió mà đề dùng, đồng thời hiểu mối liên hệ này để không bị rối.
Sơ đồ tóm tắt để ôn nhanh
- Khí áp ↔ độ cao, nhiệt độ, độ ẩm: tỉ lệ nghịch.
- 7 đai khí áp: thấp xích đạo – cao cận chí tuyến – thấp ôn đới – cao cực (đối xứng).
- Gió thổi từ cao xuống thấp: Tín phong (cận chí tuyến → xích đạo), Tây ôn đới (cận chí tuyến → ôn đới), Đông cực (cực → ôn đới).
- Gió địa phương: biển – đất (ngày đêm), phơn (khô nóng sườn khuất), thung lũng – núi (ngày đêm).
Câu hỏi thường gặp
Trị số khí áp tỉ lệ thuận hay tỉ lệ nghịch với độ cao?
Tỉ lệ nghịch. Càng lên cao không khí càng loãng, sức nén của không khí giảm nên trị số khí áp giảm. Khí áp cũng giảm khi nhiệt độ và độ ẩm tăng.
Vì sao có các đai khí áp trên Trái Đất?
Do hai nguyên nhân: nhiệt lực (nóng thì áp thấp, lạnh thì áp cao) và động lực (không khí bốc lên hoặc giáng xuống ở những vĩ độ nhất định, như áp cao cận chí tuyến ở khoảng 30° và áp thấp ôn đới ở khoảng 60°).
Gió phơn là gì, vì sao khô và nóng?
Gió phơn là gió thổi từ núi xuống sườn khuất gió. Khi lên sườn đón gió, không khí mất hơi nước do mưa; khi đổ xuống sườn bên kia, nó nóng lên nhanh (khoảng 1 °C mỗi 100 m) nên trở nên khô và nóng.
Gió Tây ôn đới và Tín phong khác nhau thế nào?
Cả hai đều thổi từ áp cao cận chí tuyến. Tín phong thổi về áp thấp xích đạo, hướng đông bắc (Bắc bán cầu) hoặc đông nam (Nam bán cầu), tính khô. Tây ôn đới thổi về áp thấp ôn đới, hướng tây nam hoặc tây bắc, tính ẩm, hay gây mưa.